Kỷ niệm 200 năm ngày sinh Các Mác (5-5-1818 - 5-5-2018)

“Có một cuộc sống sau Chủ nghĩa Mác là toàn bộ giá trị của Chủ nghĩa Mác”

Từ thực tế lịch sử có thể nói, trong lịch sử loài người, khó có cá nhân nào mà tầm vóc tư tưởng lại có thể ảnh hưởng, tác động tích cực đến nhận thức, hành động của nhân loại theo cả thời gian và không gian như C. Mác. Vì thế, dù hàng trăm năm qua liên tục bị một số thế lực phê phán, xuyên tạc, phủ nhận,… thì tư tưởng của ông vẫn đồng hành cùng nhân loại. Và đó cũng là cơ sở để chúng ta khẳng định rằng, tư tưởng của C. Mác vẫn luôn luôn là ánh sáng soi đường để các dân tộc phấn đấu hiện thực hóa khát vọng xây dựng một xã hội giàu, mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Các Mác sinh ngày 5-5-1818 mất ngày 14-3-1883.
Các Mác sinh ngày 5-5-1818 mất ngày 14-3-1883.

“Có một cuộc sống sau Chủ nghĩa Mác là toàn bộ giá trị của Chủ nghĩa Mác” - đó là kết luận của GS T. Eagleton (T. I-gô-tơn), Đại học Tổng hợp Lancaste (Len-cát-xtơ - Anh) khi phản biện quan điểm cho rằng “Chủ nghĩa Mác đã lỗi thời”, đã được ông trình bày trong cuốn sách Tại sao Mác đúng? do Đại học Tổng hợp Yale (Y-a-lơ - Mỹ) xuất bản năm 2011; và ở Việt Nam, NXB Chính trị - Hành chính đã dịch, xuất bản cuốn sách này năm 2012. Kết luận của GS T. Eagleton có cơ sở hiện thực, bởi không phải ngẫu nhiên, trước khi kết thúc thế kỷ 20, C. Mác đứng đầu danh sách bình chọn nhà tư tưởng số một của thiên niên kỷ do Đại học Cambridge (Kem-bơ-rit - Anh) tiến hành. Tương tự như vậy, đầu thế kỷ 21, khi chương trình In Our Time (Trong thời đại chúng ta) trên Radio 4 của BBC tổ chức bình chọn nhà tư tưởng được thính giả ưa thích, kết quả là C. Mác vẫn đứng đầu danh sách. Cũng tại nước Anh, không chỉ xuất bản một số cuốn sách về C. Mác, GS F. Wheen (F. Uyn) còn đánh giá cao tư tưởng của C. Mác và ông viết: “C. Mác chưa bị chôn cất dưới đống đổ nát của bức tường Berlin. Thực tế, chính lúc này, C. Mác càng cho thấy tầm giá trị lớn của ông. C. Mác đã tỏ ra là nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ 21”.

Gần đây, kỷ niệm 150 năm ngày tác phẩm Tư bản luận (Das Kapital) của C. Mác ra đời, tại nước Đức, rất nhiều ý kiến đánh giá cao sự nghiệp của C. Mác đã được đưa ra. Tiêu biểu trong các ý kiến này là tiểu luận Tư bản luận tròn 150 năm tuổi: K. Marxđể lại những gì? của U. Herrmann (U. Hec-man) đăng ngày 20-12-2016 trên TELEPOLI - tạp chí điện tử tiếng có uy tín ở Đức. Trong tiểu luận, sau khi phân tích để trả lời câu hỏi “Vì sao các nhà kinh tế kịch liệt từ chối và phớt lờ C. Mác”, U. Herrmann viết: “C. Mác đã vượt qua mọi sự giễu cợt. Tác phẩm chính của ông không hề bị tổn thương ngay cả khi chủ nghĩa xã hội bị làm méo mó và xuyên tạc đến nỗi không còn nhận ra nữa. Đến hôm nay, C. Mác vẫn thuộc về số các nhà kinh tế được trích dẫn nhiều nhất, mặc dù người ta thường xuyên rêu rao, về phương diện lịch sử ông đã lỗi thời”.

Tính toàn diện trong tư tưởng của C. Mác thể hiện qua việc vừa nghiên cứu các quy luật chung nhất, bản chất nhất của thế giới, giúp nắm bắt bản chất mối quan hệ tự nhiên - xã hội - con người; vừa chỉ ra bản chất những hiện tượng và quá trình kinh tế, phát hiện các phạm trù, quy luật kinh tế ở các giai đoạn phát triển nhất định của xã hội; vừa đưa ra quan niệm về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, luận giải một cách khoa học về sự nghiệp cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo để xây dựng một xã hội mới gắn với hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Tư tưởng của C. Mác đã tiếp cận, chỉ rõ bản chất, sự vận động của xã hội, con người trong tiến trình lịch sử, từ đó khái quát, xây dựng các nguyên lý, quy luật, phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; xây dựng lý luận có tính nguyên tắc về thế giới quan, phương pháp luận để vận dụng phân tích, lý giải, dự báo, tìm cách thức tác động đến sự vật một cách phù hợp, hiệu quả, thúc đẩy sự vật phát triển.

Hơn một thế kỷ qua, với tư tưởng của ông cùng đóng góp thiên tài của F. Ăng-ghen và V.I. Lê-nin, trên lộ trình từ tư duy lý luận tới hoạt động thực tiễn, nhân loại tiến bộ từng bước đạt được nhiều thành tựu với sự kiện vĩ đại mở đầu là Cách mạng tháng Mười năm 1917, sau đó là phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên khắp thế giới, sự ra đời hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, sự hình thành, phát triển của phong trào giải phóng dân tộc… Đáng tiếc, từ những nguyên nhân chủ quan, khách quan có tính chất sống còn mà nhân loại phải chứng kiến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu. Nhưng sự sụp đổ của một mô hình không có nghĩa nền tảng tư tưởng của mô hình đó là ảo tưởng, càng không có nghĩa học thuyết cũng sụp đổ. Sinh thời, C. Mác, F. Ăng-ghen và V.I. Lê-nin đã nhấn mạnh tiến lên chủ nghĩa xã hội là xu thế tất yếu của lịch sử loài người, song đó là quá trình khó khăn và phức tạp. Các ông cũng nhắc nhở rằng chủ nghĩa xã hội không đưa ra khuôn mẫu bất biến, mà đó là những thực thể sinh động ra đời từ sự vận dụng sáng tạo của người cộng sản và cần phải thường xuyên đổi mới, phát triển tương ứng với đặc điểm của lịch sử. Đồng thời, các ông cảnh báo về những nguy cơ mà người cộng sản có thể mắc phải sau khi giành được chính quyền và xây dựng xã hội mới. Vì, khi người cộng sản xa rời các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, biến Chủ nghĩa Mác - Lê-nin thành lý thuyết kinh viện, giáo điều và máy móc, thiếu khả năng sáng tạo, không xây dựng lý luận cách mạng trong quan hệ biện chứng với thực tiễn, nảy sinh “bệnh kiêu ngạo cộng sản”, tự tha hóa, do chủ quan và duy ý chí mà không xem xét tiến trình xây dựng xã hội trên cơ sở nguyên tắc khách quan - toàn diện - lịch sử - cụ thể - phát triển, không có chiến lược linh hoạt, chủ động phòng - chống âm mưu phá hoại và thủ đoạn tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch,… thì họ hoàn toàn có thể lạc hướng, đánh mất sự tin cậy của nhân dân, hủy hoại sự nghiệp của chính mình.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được khẳng định là nền tảng tư tưởng, cơ sở lý luận xây dựng cương lĩnh cách mạng để tổ chức, lãnh đạo quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, từ sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào hoàn cảnh lịch sử, cụ thể của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam cùng dân tộc đạt được nhiều thành tựu không thể phủ nhận, mà thành tựu lớn nhất giành lại nền độc lập, giải phóng con người, tiến bước trên con đường của sự nghiệp Đổi mới. Và lịch sử cách mạng Việt Nam cũng đưa đến nhiều bài học cốt tử, như Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XII) đã chỉ rõ khi một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị như: “1. Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. 2. Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. 3. Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” có thể dẫn tới tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với hậu quả nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Vì thế, Nghị quyết khẳng định cần “tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh… Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng… Xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân…”. Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh sự cần thiết của việc “Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng”… Các vấn đề được Nghị quyết T.Ư 4 vạch rõ và yêu cầu khắc phục là hết sức đúng đắn, cần thiết, đó kết quả của nhận thức nghiêm túc rằng chỉ có thấm nhuần sâu sắc, kiên định với Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao, Đảng ta mới thật sự vững vàng về chính trị và tư tưởng, thống nhất cao về ý chí và hành động, trong sạch về đạo đức và lối sống, chặt chẽ về tổ chức, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ngày càng phát triển, xứng đáng với lòng tin của nhân dân, từ đó tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang và bản chất tốt đẹp của mình.

Hàng trăm năm đã qua kể từ ngày tư tưởng vĩ đại của C. Mác ra đời, thế giới đã trải qua rất nhiều biến động, và lịch sử cũng xuất hiện nhiều sự vật, hiện tượng mới, trong đó có sự vật, hiện tượng chưa từng xuất hiện khi C. Mác còn sống. Tuy nhiên, từ thế giới quan, phương pháp luận của C. Mác, chúng ta có thể xác định bản chất của sự vật, hiện tượng, tìm phương cách hành động thích hợp, tác động tích cực đến thực tiễn. Kỷ niệm 200 năm ngày sinh C. Mác, chúng ta không chỉ nhớ về ông như nhớ về con người vĩ đại, bằng trí tuệ trác tuyệt đã chỉ ra con đường đúng đắn để nhân loại đi tới tương lai tốt đẹp, mà còn cần phải tiếp bước trên con đường ông đã chỉ ra, và hiện thực hóa lý tưởng của ông trong cuộc sống.

Có thể bạn quan tâm