Xin đừng mặc kệ những “nội tâm giun đất"

5 năm trước, khi đại dịch Covid-19 đang leo thang, một diễn viên rất nổi tiếng đăng bài khẳng định chắc nịch rằng, nuốt… giun đất liên tục trong năm ngày có thể “khỏi Covid”.

Các chiến dịch của Liên minh Niềm tin Số (Digital Trust Alliance - DTA) do Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Bộ Công an khởi xướng, thu hút được nhiều KOL/KOC, doanh nghiệp tham gia,... nhằm xây dựng không gian mạng an toàn cho trẻ.
Các chiến dịch của Liên minh Niềm tin Số (Digital Trust Alliance - DTA) do Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Bộ Công an khởi xướng, thu hút được nhiều KOL/KOC, doanh nghiệp tham gia,... nhằm xây dựng không gian mạng an toàn cho trẻ.

Hội chứng vai chính

Tất nhiên, bài viết lan truyền với một tốc độ chóng mặt, trong cơn hoảng loạn của cộng đồng thiếu thông tin. Người nữ diễn viên ấy nhấn mạnh, đây là kết luận dựa trên nghiên cứu khoa học. Ở góc phải bài đăng, số lượng chia sẻ khủng khiếp giống như tấm huy chương bảo đảm rằng với sự nghiệp chơi Facebook chói lọi của mình, “người của công chúng” kia không thể nói bừa.

Sau đó thì cô đã phải xin lỗi, thừa nhận mình đã quá vội vã khi chia sẻ thông tin đó. Nhưng, câu chuyện vô lý kiểu “ăn giun đất chữa bệnh”, khi đưa lên mạng, tự nhiên cũng có vẻ “rất thật”. Vậy thì, điều gì đã thật sự thôi thúc cả người đăng bài lẫn các lượt chia sẻ phái sinh góp tay “mông má” cho kiểu tin giả ngớ ngẩn này thành hình?

Năm 2009, có một thuật ngữ đã chính thức được đưa vào từ điển Urban (một loại từ điển tiếng lóng trực tuyến): Hội chứng vai chính (main character syndrome), ám chỉ một loại tâm lý rất phổ biến trên mạng. Một trong những dấu hiệu phổ biến của hội chứng này chính là đói khát sự công nhận.

Tạp chí Vox lấy hình tượng của nhân vật Carrie Bradshow trong series phim truyền hình nổi tiếng Sex and the City, để người đọc dễ hình dung được chân dung một người mắc “hội chứng vai chính”: Cô gái này bị ám ảnh về bản thân, luôn bất an mỗi khi mình không phải là người nổi bật giữa đám đông. Cô tiêu tiền không ngừng vào quần áo, giày dép, và làm những chuyện khó tin chỉ để lôi kéo sự chú ý.

Nội tâm của một người đã phải chia sẻ chuyện “giun đất chữa được Covid” có lẽ cũng phảng phất nhuốm màu của sự tuyệt vọng kiểu ấy. Để trở thành vai chính, họ cần phải nói về thứ gì đó đang nhức nhối, thậm chí là đưa ra một giải pháp không hề có thật. Tất cả những gì thu về không phải là lợi ích, mà chỉ là sức chú ý đơn thuần. Khi cộng đồng đang sợ hãi và chưa thể tìm ra cách nào ứng phó với đại dịch, thì ta đưa cho họ một con… giun đất là đủ.

Nếu như ở ngoài đời, khi gặp một chuyện không nằm trong phổ kiến thức, thì cách ứng xử phổ biến thường là đi hỏi những người có chuyên môn về chuyện đó, hoặc chỉ đơn giản là im lặng. Nhưng đây là mạng xã hội, nơi mà nỗi ám ảnh “vai chính” mạnh mẽ đến mức người ta có thể phớt lờ tính chính danh ấy, để nói leo chỉ vì chủ đề đó đang nóng.

Trong một bài trả lời phỏng vấn tạp chí Newsweek vào năm 2021, tiến sĩ tâm lý học người Mỹ Michael Wetter phân tích: “Đấy là hậu quả tất yếu của mong muốn tự nhiên của con người được công nhận và xác thực, hòa quyện với công nghệ phát triển nhanh chóng cho phép họ tự quảng bá bản thân rộng rãi và NGAY LẬP TỨC”.

Công nhận nhanh và chậm

Trước khi mạng xã hội ra đời, chúng ta có một hệ thống lớp lang những sự xác nhận mà tôi tạm gọi là “công nhận chậm”. Thí dụ, để lên truyền hình và nói chuyện như một chuyên gia trong lĩnh vực nào đó, bạn phải trải qua đủ số năm học đại học, rồi lấy một học vị cao đủ uy tín để truyền thông tìm đến và xin ý kiến cho một chương trình nghiêm túc. Trước khi tham vấn bạn, thì người phóng viên cũng phải tìm hiểu thông qua việc hỏi han những người trong giới của bạn xem bạn có đúng là một chuyên gia trong lĩnh vực họ cần hay không.

Trong vài phút ngắn ngủi trên sóng, có nhiều mô-đun xã hội đã xác nhận cho bạn như thế, trước khi có ai đó xem chương trình và nhận ra lời khuyên của bạn có ích. Để phản hồi, người xem có thể gửi thư đến cho nhà đài, hoặc xin email và số điện thoại của bạn để gọi điện khen ngợi/xin tư vấn sâu hơn. Bạn biết ý kiến của mình có giá trị thậm chí rất lâu sau khi chương trình lên sóng. Một sự thừa nhận lành mạnh và đủ khả tín.

Mạng xã hội, ngược lại, diễn ra với sự công nhận “mì ăn liền”, đúng như phân tích của Wetter: Ai cũng có thể đăng bài, và nhận lại sự tưởng thưởng ngay lập tức, thông qua lượng like (thích), share (chia sẻ) và comment (bình luận). Tâm lý “vai chính” ngày càng trầm trọng hơn, sau mỗi lần được các công cụ của mạng xã hội ghi nhận. Một loại phản xạ có điều kiện.

Cơ chế này tạo ra vòng lặp tương tự cuộc đua vĩnh cửu của chuột Hamster: Để giành lấy nút like, một người có thể làm những chuyện phi lý, như một con giun đất oằn mình theo từng nhịp tương tác. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, con giun đất chống lại chính lợi ích của mình.

Năm 2020, thử thách bất tỉnh (blackout challenge) lan truyền trên TikTok đã làm thế giới phải sửng sốt vì hậu quả ghê gớm nó tạo ra: Người tham gia sẽ tự siết cổ mình bằng dây lưng, dây thừng, dây xích chó hoặc bất kỳ vật dụng nào có sẵn trong nhà cho đến khi ngất lịm, rồi ghi hình lại khoảnh khắc tỉnh dậy để đăng tải lên mạng, nhằm tạo cảm giác “phê” thoáng qua.

Theo Bloomberg, chỉ trong vòng 18 tháng trào lưu này lan truyền, ít nhất 15 trẻ em dưới 12 tuổi tử vong vì bắt chước “thử thách”. Ngoài ra, khoảng 5 nạn nhân khác ở độ tuổi 13-14 cũng đã mất mạng. Theo số liệu thống kê của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC), khi trò chơi ngạt thở lần đầu được ghi nhận rộng rãi vào năm 2008, nó đã cướp đi sinh mạng của ít nhất 82 thiếu niên.

Thế nên, thật kỳ lạ là cho đến tận hiện tại, những cuộc tranh luận dai dẳng về thực trạng các nội dung độc hại lan rộng trên không gian mạng, về trách nhiệm của các nhà sáng tạo nội dung, về ranh giới giữa “giải trí” và “lệch chuẩn”, về các tác động vô hình đến nhận thức của thế hệ trẻ, và về “Ai sẽ phải chịu trách nhiệm chính, nếu xảy ra hậu quả?” hay “Cơ chế nào để nhanh chóng xử lý các nội dung độc hại?”... vẫn diễn ra như những câu chuyện không hồi kết.

Nếu mọi hướng đi đều là “có được, có mất”, thì phải chăng bất cứ lựa chọn “nặng-nhẹ” nào cũng đều nên lấy sự an toàn của trẻ em làm vấn đề trung tâm? ■