Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)
Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tăng tính tích hợp trong quy hoạch

Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 5/5/2025 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định: Tạo chuyển biến rõ nét trong công tác bảo vệ môi trường, hướng tới xây dựng Thủ đô xanh, sạch, đẹp và phát triển bền vững. Cùng đó, thành phố đã ban hành Nghị quyết và các quy định liên quan việc triển khai vùng phát thải thấp tại khu vực trung tâm, dự kiến thực hiện từ ngày 1/7/2026. Soi chiếu vào Quy hoạch Tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch), nhiều chuyên gia cho rằng, những năm tới, cơ quan chức năng cần tích cực hơn nữa trong tháo gỡ “điểm nghẽn” về môi trường tồn tại nhiều năm, tạo chuyển biến rõ nét trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sống của người dân.

Để mỗi đồ án quy hoạch đi vào đời sống, bản thân nó phải mang tính tích hợp. Điều này đồng nghĩa các yếu tố từ kỹ thuật, môi trường, kinh tế đến văn hóa, xã hội cần được xem xét đồng thời trong một hệ sinh thái đa dạng.

TS, KTS Phạm Anh Tuấn, Chủ tịch Chi hội Kiến trúc sư Cảnh quan Việt Nam, Trưởng nhóm chuyên môn Kiến trúc cảnh quan, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch (Trường đại học Xây dựng Hà Nội), phân tích: “Không thể tách riêng môi trường ra khỏi kỹ thuật, cũng như không thể chỉ làm hạ tầng mà bỏ qua yếu tố sinh thái. Thí dụ, hệ thống cây xanh đô thị: Nếu chỉ coi cây xanh là yếu tố làm đẹp cảnh quan trên mặt đất mà không tính đến hạ tầng ngầm, không gian phát triển cho bộ rễ của cây xanh, điều kiện về thổ nhưỡng, thủy văn, hệ thống thoát nước, tiêu chuẩn lu lèn cho phát triển giao thông, thì cây khó có thể phát triển bền vững”.

Cũng theo ông Tuấn, đồ án quy hoạch không chỉ nhằm tạo không gian sống cho con người, mà còn phải bảo đảm môi trường sống cho các loài sinh vật khác. Con người muốn sống tốt thì các loài sinh vật khác cũng có nhu cầu sống tốt. Đó là nguyên lý cộng sinh, hình thành hệ sinh thái đô thị dựa trên điều kiện tự nhiên cũng như giá trị văn hóa lịch sử của mỗi vùng đất. Điều này càng cho thấy, việc nghiên cứu giải pháp mang tính tích hợp có thể quyết định đến hiệu quả thực tiễn của quy hoạch. Quy hoạch không còn đơn thuần là bài toán kỹ thuật về đất đai, hạ tầng hay phân khu chức năng, mà trở thành công cụ định hướng một đô thị đáng sống, nơi mọi quyết sách đều phải hướng tới không chỉ cho con người mà cho muôn loài thông qua việc tạo lập một môi trường sinh thái bền vững. Từ đó, góp phần không nhỏ trong việc cải thiện môi trường sống cho cộng đồng xã hội mà còn nâng cao tính đa dạng sinh học cho đô thị, giảm sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn, giữa nội thành và ngoại thị.

Đồng quan điểm, KTS Đỗ Xuân Sơn (Trường đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh) chia sẻ thêm: “Ngay bây giờ, cần tích hợp môi trường vào quy hoạch vĩ mô tầm nhìn dài hạn. Quy hoạch 100 năm phải xác định các “vùng cấm phát triển” và “vùng chuyển đổi xanh” (chuyển khu công nghiệp nặng ra ngoài vành đai 4, vành đai 5)”.

Mọi can thiệp cần phải được cân nhắc kỹ

Đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường, không ít chuyên gia cho rằng, Thủ đô cần bảo tồn các không gian mặt nước hiện có, khôi phục một số ao hồ đã bị lấp thì càng lý tưởng, phát triển thêm công viên và vườn hoa. Cụ thể, trong quá trình loại bỏ hoặc di dời các nhà máy, xí nghiệp cũ ra khỏi nội thành, thay vì chuyển đổi các khu đất này thành các khu ở hoặc trung tâm thương mại, những không gian đó nên dành cho phát triển không gian xanh, xây dựng các vườn hoa, công viên và không gian công cộng.

KTS Phạm Anh Tuấn kiến nghị: “Cơ quan chức năng nên định hình khung chiến lược cho sự phát triển của các hành lang sinh thái dọc theo các sông chính và các kết nối “ngang” giữa các hành lang sinh thái ven sông chính này để hình thành các yếu tố “tuyến”. Từ đó, tạo động lực phát triển và làm cơ sở xây dựng, kết nối với các mảng xanh “nước - cây” (yếu tố “điểm”) được hình thành từ các vùng đất di dời các nhà máy, xí nghiệp cũ nhằm bảo đảm khả năng hình thành mạng lưới sinh thái tự nhiên hoàn chỉnh cho đô thị Hà Nội. Đây là giải pháp không chỉ bổ sung đáng kể không gian xanh phục vụ cộng đồng mà còn cải thiện chỉ số diện tích cây xanh/đầu người cho Thủ đô và nâng cao hiệu quả về bán kính phục vụ của các không gian đó. Nhất là các khu vực nội đô lịch sử, nơi không gian xanh vốn là một yếu tố vô cùng xa xỉ”.

Một vấn đề khác, Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, xác định sông Hồng là trục cảnh quan - văn hóa trung tâm. Áp lực từ ý tưởng “đại lộ sông Hồng” cũng đặt ra nhiều thách thức. Thực tế cho thấy, nhiều khu vực ven sông Hồng hiện vẫn là bãi bồi, không gian nông nghiệp và làng xóm truyền thống. Nếu phát triển đô thị theo hướng mật độ cao, sẽ phát sinh nguy cơ xâm lấn vùng đệm di tích, phá vỡ cấu trúc làng cổ và gia tăng áp lực môi trường. Đặc biệt, việc thu hẹp hành lang thoát lũ có thể làm gia tăng rủi ro ngập lụt và ảnh hưởng trực tiếp tới tính bền vững của toàn bộ không gian ven sông.

Ông Bùi Trường Sơn, tổ dân phố Bắc Cầu (phường Bồ Đề), đề xuất: Chúng tôi mong các cơ quan chức năng có phương án tối ưu nhất, để vừa phát triển thành phố, vừa bảo đảm yếu tố nhân văn, bảo tồn hệ sinh thái, tạo không gian công cộng cho người dân”.

Còn KTS Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Kiến trúc sư trưởng thành phố Hà Nội nêu quan điểm: Sông Hồng có vị thế đặc biệt trong cấu trúc đô thị Hà Nội, do đó mọi can thiệp phát triển cần được cân nhắc trên nguyên tắc hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và sinh thái, đồng thời phải tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch thoát lũ ■

Thay vì san lấp hoặc bê-tông hóa để phát triển các khu đô thị quy mô lớn, thành phố nên đặt mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái ven sông Hồng và một số hệ sinh thái khác như những “lá phổi xanh” của thành phố. Cần duy trì các vùng cây cỏ tự nhiên và hệ thống canh tác truyền thống, nhằm bảo vệ đa dạng sinh học, góp phần điều tiết vi khí hậu, hấp thụ nước lũ và giảm áp lực môi trường cho khu vực trung tâm Hà Nội”.

KTS Đỗ Xuân Sơn