- Xin ông chia sẻ về tình hình đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nhất là nông nghiệp xanh những năm gần đây?
- Giai đoạn 2020-2025, nền nông nghiệp Việt Nam nói riêng, nền kinh tế nói chung đối mặt với rất nhiều thách thức từ bối cảnh quốc tế và trong nước. Ngay đầu nhiệm kỳ, đại dịch Covid-19 đã có những tác động rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, làm gián đoạn chuỗi cung ứng. Tiếp đó là những bất ổn về an ninh, chính trị thế giới, vấn đề thuế quan, rào cản thương mại trong chuyển dịch xanh. Ở trong nước, tình hình thiên tai diễn biến phức tạp tác động đến ngành nông nghiệp, nông thôn rất lớn cả về tài sản, hoa màu và con người.
Tuy nhiên, nền nông nghiệp vẫn khẳng định được vai trò là trụ cột của nền kinh tế, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, an ninh lương thực. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn ngành giai đoạn 2021-2025 đạt
3,6-3,7%/năm[1], riêng năm 2025 đạt 3,78%, cao hơn nhiều so với kết quả ghi nhận trong giai đoạn 2016-2020 là 2,93% và cao hơn so với kế hoạch đề ra đầu kỳ là khoảng 2,5-3%/năm.
Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2021-2025 liên tục tăng từ 48,6 tỷ USD năm 2021 lên tới 70,9 tỷ USD năm 2025, vượt mục tiêu 2025 đặt ra hơn 50 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân khoảng 9,8%/năm.
Thu nhập của cư dân nông thôn năm 2022 đạt 47,2 triệu đồng/người, tới 2023 đạt 50,04 triệu đồng/người, tăng 1,2 lần so với năm 2020[2]. Còn năm 2024 đạt 57 triệu đồng/người.
Với mức đóng góp khoảng 12% GDP, sử dụng gần 27% lực lượng lao động, cấu phần đầu tư công trong lĩnh vực nông nghiệp cũng được Nhà nước quan tâm, nhưng vẫn còn thấp so với đóng góp và vai trò của ngành nông nghiệp và môi trường giai đoạn vừa qua. Cụ thể, đầu tư cho nông nghiệp chưa tới 5% tổng đầu tư toàn xã hội, thấp hơn rất nhiều so với đóng góp của nông nghiệp vào GDP. Xét theo tỷ lệ giữa yêu cầu đầu tư và tăng trưởng GDP (chỉ số ICOR), ngành nông nghiệp cho thấy hiệu quả sử dụng vốn cao hơn so với phần còn lại của nền kinh tế, khi cần ít vốn đầu tư hơn để tạo ra cùng một mức tăng trưởng GDP. Hoạt động đầu tư công vẫn tập trung vào khu vực truyền thống của ngành nông nghiệp mà chưa tập trung sâu vào những đột phá R&D, khoa học công nghệ, công nghệ số, phát triển vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, hạ tầng dịch vụ logistics.
Trong bối cảnh Đảng và Chính phủ thúc đẩy tăng trưởng hai con số, cùng với đó là thực hiện yêu cầu bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng của tăng trưởng (xem môi trường là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế với môi trường) và đồng thời thích ứng với xu hướng chung của các thị trường quốc tế trong việc lồng ghép các tiêu chuẩn xanh, tuần hoàn và bền vững đòi hỏi phải đổi mới tư duy trong đầu tư cho sản xuất nông nghiệp để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, phát triển các mô hình kinh tế mới, bền vững.
Xét theo cơ cấu lĩnh vực đầu tư trong nông nghiệp, Việt Nam cần từng bước điều chỉnh để đạt được sự cân bằng hợp lý giữa đầu tư cho cơ sở hạ tầng cứng và đầu tư cho các lĩnh vực có giá trị gia tăng và tính bền vững cao hơn. Nhìn tổng thể cả nước, các lĩnh vực này bao gồm cả chuyển đổi nông nghiệp xanh, tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, giảm phát thải và phát triển nông nghiệp
tuần hoàn.
Tuy nhiên, để chuyển đổi hiệu quả, bền vững và đạt được mục tiêu đề ra cũng gặp rất nhiều những khó khăn, thách thức như: (1) Sự sẵn sàng, kiến thức, kỹ năng của người dân, doanh nghiệp về các mô hình kinh tế mới còn hạn chế; khả năng đổi mới, sáng tạo trong không gian số và bối cảnh thị trường mới của ngành nông nghiệp (nhất là các khu vực nông hộ và doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ) là thách thức đặt ra; (2) Thể chế, chính sách chưa đồng bộ, vận hành chưa hiệu quả giữa các chính sách khác nhau; thiếu các hướng dẫn, tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể để giúp cả nhà quản lý, người dân, nông hộ và doanh nghiệp nhận biết và lựa chọn các mô hình phù hợp; (3) Vốn cho đầu tư, khoa học, công nghệ, năng lực số còn hạn chế; (4) Liên kết vùng, địa phương, doanh nghiệp, liên kết chuỗi giá trị còn hạn chế; (5) Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, cơ chế chia sẻ chưa được hoàn thiện; hạ tầng cứng, mềm cần phải phát triển đồng bộ.
- Như vậy, tư duy đầu tư trong nông nghiệp cần chuyển từ “đầu tư cho sản xuất” sang “đầu tư cho đổi mới”, tập trung vào công nghệ và mô hình tạo giá trị gia tăng cao, có khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Nhưng việc này đang vấp phải những khó khăn nào?
- Có bốn rào cản cấu trúc lớn. Thứ nhất, tư duy và tầm nhìn cho việc đổi mới trong định hướng đầu tư. Định hướng tầm nhìn thay đổi sẽ giúp các ưu tiên cho đổi mới, sáng tạo. Cùng với đó là làm sao tổ chức xây dựng được nhiều mô hình đầu tư cho đổi mới hiệu quả từ đó lan tỏa và nhân rộng ra.
Thứ hai, hạn chế về quy mô trong sản xuất, đất đai manh mún. Diện tích canh tác bình quân của hộ nông dân Việt Nam chỉ khoảng 0,3-0,5 ha, với trên 80% hộ canh tác dưới 1ha, trung bình phân tán thành năm mảnh nhỏ. Quy mô này khiến chi phí giao dịch để áp dụng công nghệ, chứng nhận chất lượng và tiếp cận tín dụng chính thức đều rất cao.
Thứ ba, chi phí đầu tư cho đổi mới còn khá lớn. Chi phí đầu tư cho nền kinh tế xanh, nông nghiệp xanh, tuần hoàn… còn khó khăn với nông hộ. Theo Báo cáo Khí hậu và Phát triển Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB), lộ trình phát triển chống chịu khí hậu và trung hòa carbon đòi hỏi thêm khoảng 6,8% GDP - tương đương 368 tỷ USD đến năm 2040 - trong đầu tư mới. Trong khi đó, tài chính xanh chưa đủ là động lực thúc đẩy do chi phí và khả năng tiếp cận vốn khó. Thị trường trái phiếu xanh, bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số thời tiết và cơ chế tín chỉ carbon vẫn đang trong giai đoạn xây dựng. ADB năm 2025 phải dùng cơ chế tài chính hỗn hợp 250 triệu USD qua BIDV chính là để lấp khoảng trống này.
Thứ tư, biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt. Việt Nam nằm trong nhóm năm quốc gia chịu rủi ro khí hậu cao nhất toàn cầu. Năm 2024, riêng bão Yagi đã gây thiệt hại nông nghiệp khoảng 31.800 tỷ đồng. Riêng Đồng bằng sông Cửu Long -
vùng sản xuất 50% sản lượng lúa gạo và 95% gạo xuất khẩu - đang đối mặt với xâm nhập mặn ảnh hưởng 1,3-1,7 triệu ha.
Thứ năm, cần lực lượng tiên phong sẵn sàng cho đổi mới, tiếp nhận những thay đổi nhất là lực lượng trực tiếp tham gia quá trình đổi mới này như nông dân trí thức, chuyên nghiệp, hệ thống hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong, đầu tàu dẫn dắt chuỗi cung ứng, chuyển đổi hệ thống.
- Trước những khó khăn vừa nêu, cần làm gì để đưa đầu tư công thành “đòn bẩy” kích hoạt nguồn lực tư nhân và toàn xã hội đầu tư cho nông nghiệp xanh, thưa ông?
- Lựa chọn đầu tư công hiệu quả, tập trung đầu tư bài bản vào một số lĩnh vực, ngành hàng quan trọng, xây dựng được hệ sinh thái, không gian phát triển cho các ngành chủ lực, phát triển hạ tầng, dịch vụ logistics… kết hợp với đổi mới môi trường kinh doanh làm nền tảng kích hoạt và dẫn dắt đầu tư tư nhân. Tăng đầu tư cho nghiên cứu khoa học, khoa học dữ liệu, chuyển đổi số hỗ trợ tốt cho phát triển nông nghiệp. Tập trung vào những khu vực, loại hình công nghệ cốt lõi, quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi toàn hệ thống.
Đổi mới cơ chế, thủ tục hành chính góp phần thúc đẩy, nâng cao đầu tư công hiệu quả. Tạo điều kiện để thu hút đầu tư tư nhân. Có chính sách hỗ trợ cho đầu tư tư nhân, xây dựng thúc đẩy đầu tư theo hình thức hợp tác công tư. Huy động đầu tư của khu vực tư nhân vào trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Phát triển các công cụ chính sách mới, dựa vào cơ chế thị trường để huy động sự tham gia của toàn xã hội trong phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường. Rất nhiều cơ chế, công cụ chính sách mới dựa vào nguyên tắc của thị trường có thể áp dụng để phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững như tín chỉ đa dạng sinh học, khu bảo tồn mở (OECM), tín dụng xanh,… Hỗ trợ mở rộng, phát triển thị trường các sản phẩm, dịch vụ mới từ các mô hình nông nghiệp xanh.
Tập trung nâng cao kiến thức, kỹ năng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân thông qua các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, tập huấn và thí điểm, nhân rộng tại các vùng, địa phương. Tạo dựng các chương trình đổi mới, sáng tạo trong nông nghiệp để chuyển dịch sang nông nghiệp bền vững, xanh.
- Xin trân trọng cảm ơn ông! ■
----------------
[1] Năm 2021 tăng 3,71%, năm 2022 tăng 3,70%, năm 2023 tăng 3,93%, năm 2024 tăng 3,27%.
[2] Thu nhập của người dân nông thôn năm 2020 là 41,78 triệu đồng/ người.
Nghiên cứu của FAO cho thấy mỗi đồng đầu tư vào R&D nông nghiệp từng tạo ra 12,22 đồng giá trị sản xuất - đây là tỷ suất sinh lợi xã hội rất cao mà chúng ta chưa khai thác tốt”.