Thông điệp mới của việc điều chỉnh tỷ giá

Thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, mới đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có quyết định điều chỉnh tỷ giá chính thức (tỷ giá bình quân liên ngân hàng) áp dụng từ ngày 11-2-2011. Mục đích của lần điều chỉnh này là giúp thị trường ngoại hối và tỷ giá chủ động, linh hoạt, phù hợp với tình hình cung - cầu ngoại tệ, bảo đảm tăng tính thanh khoản của thị trường, khuyến khích xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế...

Ðiểm đáng chú ý của điều chỉnh tỷ giá lần này có thể xét trên các điểm mới đó là: Thứ nhất, về thời điểm, tuy không bất ngờ vì đã được dự báo trước cả tháng và cũng khá chậm trước sự chênh lệch cao kéo dài của hai loại tỷ giá, nhưng có sự lựa chọn khá tối ưu khi công bố vào đúng ngày cuối tuần làm việc, giúp giảm bớt những phản ứng bột phát của thị trường. Thứ hai, về mức điều chỉnh, lớn và gây sốc nhất trong suốt hơn một năm qua, với giá USD trong giao dịch liên ngân hàng đã tăng 1.700 đồng, từ mức 18.932 VND lên mức 20.693 VND/USD - tức tăng hơn 9,3% so với mức tăng 2,1% trong đợt điều chỉnh tỷ giá ngày 18-8-2010, và tăng 3,36% ngày 11-2-2011. Như vậy, trong vòng đúng một năm qua, NHNN đã ba lần chính thức điều chỉnh tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng với mức tăng tổng cộng 14,46%, tức xấp xỉ mức lạm phát tháng 2-2011 so với tháng 2-2010 (TCTK cho biết, CPI tháng 1-2011 của cả nước đã tăng 1,74% so với tháng 12-2010 và tăng 12,17% so với cùng kỳ năm 2010). Thứ ba, biên độ tiếp tục xu hướng thu hẹp biên độ giao dịch qua ba lần điều chỉnh tỷ giá trong vòng một năm qua, theo đó, biên độ giao dịch đã liên tục thu hẹp dần từ Ỷ 5%, rồi giảm tiếp và giữ nguyên ở mức Ỷ 3%, và lần này xuống gần như mức tối thiểu, chỉ còn Ỷ 1%.

Với ba điểm mới nêu trên, đợt điều chỉnh tỷ giá lần này của NHNN là tối ưu về lựa chọn thời điểm, tối đa về mức độ giảm giá nội tệ và tối thiểu về thu hẹp biên độ giao dịch. Ðồng thời, với việc NHNN cũng cam kết trong thời gian tới sẽ điều hành tỷ giá bình quân liên ngân hàng tương đối linh hoạt, chủ động, phù hợp với tình hình cung - cầu ngoại tệ, bảo đảm tăng tính thanh khoản của thị trường, góp phần kiềm chế nhập siêu và hỗ trợ cho việc thực thi chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt hơn... Tất cả những điều đó đã cho thấy dường như đang và sẽ có những chuyển động khá sâu sắc cả về nhận thức, cũng như cách thức điều hành tỷ giá của NHNN.

Cần nhấn mạnh rằng, điều chỉnh linh hoạt tỷ giá là động thái cần thiết và bình thường trong đời sống kinh tế thị trường đầy biến động, nhất là trong bối cảnh có sự gia tăng cuộc chiến tiền tệ với sự dịch chuyển liên tục thị giá các đồng tiền trên thế giới thời kỳ hậu suy giảm toàn cầu... Tuy nhiên, trong thời gian đầu và mức độ cục bộ, sự điều chỉnh tỷ giá làm tăng giá USD trên thị trường tự do (thực tế, buổi sáng ngày 21-2 giá USD trên thị trường tự do trong nước dao động ở mức 22.200 - 22.350 đồng mỗi USD), cũng như làm tăng giá của hàng hóa và nguyên liệu nhập khẩu, do đó làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa, cũng như làm giảm lượng hàng nhập khẩu, từ đó có thể làm gia tăng áp lực lạm phát cung - cầu và chi phí đẩy; đồng thời, có thể tạo ra cái gọi là rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh và tín dụng của những doanh nghiệp vay VND lãi suất cao và phải nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào sản xuất... Sự điều chỉnh tỷ giá cũng ít nhiều tạo xung lực tăng giá vàng trong nước.

Thực tế chứng tỏ, sau khi tăng khoảng 1,9 triệu đồng/lượng so với thời điểm cách đây một tuần theo sự điều chỉnh tỷ giá USD, giá vàng trong nước có phần giảm nhẹ theo giá vàng quốc tế (tại thị trường châu Á sáng ngày 21-2-2011, giá vàng mỗi ounce vàng tương đương gần 1.400 USD. Xu hướng tăng giá USD trên thị trường tiền tệ quốc tế sẽ hỗ trợ tích cực cho sự ôn hòa của giá vàng trong thời gian tới (chỉ số USD đã tăng thêm 0,76% lên 78,23 USD, trong khi đồng EUR trượt 0,97% xuống tương ứng 1 EUR đổi được 1,35 USD).

Về tổng quát và lâu dài, việc điều chỉnh tỷ giá này có tác dụng tốt nhằm hạn chế, giải tỏa tình trạng găm giữ, cũng như kỳ vọng đầu cơ, góp phần cân đối theo nguyên tắc thị trường cung - cầu về ngoại tệ, kích thích xuất khẩu và tăng cường sản xuất trong nước, từ đó góp phần kiềm chế vững chắc lạm phát, không chỉ giúp tăng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam, mà còn hạn chế nhập siêu, nhất là những sản phẩm trong nước có thể sản xuất thay thế. Việc tiền đồng giảm giá khiến các nhà xuất khẩu sẽ được lợi, còn hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên đắt hơn.

Việc điều chỉnh tỷ giá đã thu hẹp chênh lệch tỷ giá chính thức với tỷ giá trên thị trường tự do sẽ giúp cải thiện dự trữ ngoại hối của Việt Nam do không phải gia tăng bán USD theo tỷ giá thấp, giảm bớt kỳ vọng đầu cơ và cả hoạt động buôn bán vốn và ngoại tệ lòng vòng kiếm lời dựa trên chênh lệch giữa hai tỷ giá. Ðiều này còn giúp tăng cường tập trung và quản lý kinh doanh ngoại tệ trên thị trường có tổ chức. Ðồng thời cũng giúp cho các doanh nghiệp tính đúng, tính đủ chi phí vốn ngoại tệ trong bảng hạch toán kinh doanh của mình, mà trước đó thường phải che giấu, hợp lý hóa các khoản mua USD trên thị trường tự do với giá cao hơn giá chính thức. Nói cách khác, tình trạng chênh lệch cao hai tỷ giá chính thức và không chính thức tồn tại kéo dài trong nhiều tháng qua gây căng thẳng giả tạo cung - cầu trên thị trường ngoại tệ, cũng như gây thiệt hại 'kép' cho doanh nghiệp và nhiều hệ lụy tiêu cực khác trong việc thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Nguyên nhân là doanh nghiệp nhận ngoại tệ qua ngân hàng phải bán lại cho ngân hàng theo giá chính thức thấp, trong khi muốn mua ngoại tệ để thanh toán thì lại khó mua được ngoại tệ với giá chính thức.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục xu hướng điều hành linh hoạt tỷ giá theo các tín hiệu và nguyên tắc thị trường. Trong đó, lưu ý rằng, thực tế cho thấy cần tránh tín điều và kỳ vọng đầu cơ gắn với xu hướng chỉ có điều chỉnh tăng một chiều tỷ giá và tăng với giá sốc, biên độ hẹp sau khi neo cố định tỷ giá kéo dài. Nói cách khác, cần điều chỉnh tỷ giá có lên, có xuống, thời gian ngắn và nhanh hơn, với mức điều chỉnh thấp hơn và biên độ giao dịch có thể rộng hơn... thì bớt tạo sốc tỷ giá và những hệ lụy mặt trái của điều chỉnh tỷ giá hơn...

Có thể bạn quan tâm