Nếu tôi có một điều ước...

"Nếu có một điều ước, tôi ước sao tất cả nông dân ngày càng giàu có, sung túc. Nhà nước nên có những chính sách thiết thực hơn, gần gũi, bình dân hơn để người dân bớt khổ rồi mới nói tới chuyện khá giàu...". Ðó là tâm sự mở đầu câu chuyện của thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Ánh, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Ðồng Tháp.

Sinh ra tại xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Ánh đã hơn 20 năm gắn bó với ruộng đồng, cùng đồng cam cộng khổ, chia sẻ những niềm vui nỗi buồn với bà con nông dân. Từ mảnh đất nơi đầu nguồn xa xôi đến vùng phù sa màu mỡ trên địa bàn, hầu như chưa có nơi nào mà chị và các bạn đồng nghiệp không đặt chân đến. Ðồng đất từng vùng ra sao? Sâu rầy mật độ thế nào?...Những cán bộ kỹ thuật như chị Ngọc Ánh đều nằm lòng và kịp thời cảnh báo cho bà con nông dân cách phòng, chống có hiệu quả nhất. Những cố gắng ấy đã góp phần không nhỏ cho những mùa vàng bội thu của quê hương Ðồng Tháp mỗi năm hơn ba triệu tấn, đứng vào hàng thứ ba của vựa lúa khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Và chị là một trong những gương mặt nổi bật nhất, đại diện cho hơn 600 cán bộ, công chức toàn ngành nông nghiệp được cử về dự Liên hoan điển hình tiên tiến "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" cấp tỉnh.

Cái nghề mà chị gắn bó với ruộng đồng bây giờ của mình cũng xuất phát từ hoàn cảnh gia đình. Chị là con thứ tư trong nhà. Tuy đất đai ông bà trước đây để lại khá nhiều, tới bốn héc-ta và ba mẹ lúc nào cũng quần quật ngoài ruộng "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" nhưng cuộc sống gia đình vẫn luôn thiếu trước hụt sau. Chưa cắt lúa mà bồ đã cạn, tiền đã hết là cái cảnh diễn ra thường xuyên ở nhà chị. Nguyễn Thị Ngọc Ánh ngậm ngùi nhớ lại: "Ba tôi đã mất nhưng cái "được" lớn nhất ông để lại cho con là học thức. Cha mẹ là nông dân nhưng tất cả các con đều được học hành đến nơi đến chốn, người là bác sĩ, kỹ sư, cô giáo...Ba tôi có quan niệm cũng hơi "khác người": Con gái phải cho học hành đàng hoàng, muốn nghề gì cũng được. Nếu ba làm không đủ nuôi cho tụi bay ăn học thì người phải nghỉ học trước là con trai, chứ không phải con gái". Nhờ cái "lý" của ông, mới có thêm một cô "kỹ sư đồng ruộng", như bà con nông dân thường thân mật khi nhắc đến Ngọc Ánh.

Cũng xuất phát từ hoàn cảnh gia đình, bao năm qua Nguyễn Thị Ngọc Ánh luôn trăn trở: Làm ruộng vất vả nhưng lợi nhuận chẳng là bao, cuộc sống người nông dân vẫn lam lũ, cơ cực, cái nghèo luôn đeo bám theo họ, dù có khi lúa thu về đầy bồ, chưa vui lại lo bởi thường gặp cảnh trớ trêu: trúng mùa, rớt giá. Làm thế nào để người dân có thể làm giàu ngay trên mảnh đất của mình? Ðó là câu hỏi luôn luôn hiện hữu trong đầu Ánh từ khi chị thi vào Khoa Trồng trọt - Ðại học Nông nghiệp cho tới lúc ra trường công tác rồi sau đó học tiếp thạc sĩ và trở về công tác trong ngành nông nghiệp Ðồng Tháp. 

Ði thăm đồng, nhìn cả đám ruộng cháy xác xơ, chị ứa nước mắt, chân bước không nổi. Thương bà con không dám trách thành lời mà chỉ day dứt trong lòng: Phải chi các bác nghe lời tụi con, sắp đợt rầy nở đừng xuống giống vội. Ðã lỡ xuống, khi rầy bộc phát nhiều, phải chi bác cho tụi con hay sớm, có thể tìm cách trị bệnh còn vớt vát chút lúa ăn. Bây giờ trắng tay, cũng không được hưởng số tiền bốn triệu đồng hỗ trợ của nhà nước! Rồi đây gia đình biết trông chờ vào đâu? Mấy đứa nhỏ liệu có được học tiếp hay lại phải cùng ba mẹ lăn lóc ngoài đời làm thuê, làm mướn...

Rất nhiều hội nghị, hội thảo của các nhà khoa học trong cả nước bàn về cách phòng trừ dịch hại, nhưng "từ hội nghị cho tới bàn ăn" còn một khoảng cách quá xa và phụ thuộc vào bao nhiêu yếu tố. Thế nhưng, chị và những cán bộ kỹ thuật nông nghiệp nơi đây đã làm được cái điều không tưởng, bắt rầy nâu, vi-rút lùn, lùn xoắn lá phải quy phục. Ðội ngũ cán bộ kỹ thuật đã luôn bám sát địa bàn, theo dõi, cụ thể từng trà lúa, từng khu vực. Kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết về các nghiên cứu đã có với thực tế ở địa phương mình để có đánh giá, dự báo, thông tin và đề xuất giải pháp phòng trừ dịch hại hữu hiệu, kịp thời, không để xảy ra thiệt hại do chủ quan. 

Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Ánh nói ví von: Mình "sống" với rầy giống như dân đồng bằng sông Cửu Long "sống chung với lũ". Thậm chí, còn khó hơn vì lũ tuy hại thật nhưng cũng còn chút giá trị mà lợi dụng bởi nước lên dân còn có nơi để bắt cá, một loạt mô hình nuôi tôm, cá mùa nước cho thu nhập cao và dân lao động có thêm công ăn việc làm. Còn cái đám rầy nâu này, chỉ có nước hốt cho cá cảnh ăn khi "chúng vào đèn" mà thôi, chẳng được cái tích sự gì!

Trong quá trình cùng nông dân ra đồng phòng, chống dịch bệnh trên lúa, chị thấy nhiều nơi nông dân chưa thực hiện tốt "bốn đúng" trong phun trừ rầy nâu bởi chưa hiểu, chưa thực hiện đúng quy trình. Mặc dù, trước đó cán bộ kỹ thuật cũng đã thiết kế, xây dựng tờ bướm hướng dẫn áp dụng bằng hình ảnh rất sinh động cụ thể, giúp bà con dễ hiểu và dễ áp dụng vào đất ruộng nhà mình. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền, vận động, thuyết phục nông dân nên năm 2009 dù rầy nâu xuất hiện những đợt bộc phát với mật độ khá cao nhưng diện tích cháy rầy và tình trạng lúa bị ngộ độc do phun thuốc trong toàn tỉnh đã giảm đáng kể. Ðặc biệt, trong cả ba vụ sản xuất của năm 2009 và vụ đông xuân 2009-2010 và các năm sau đó, người nông dân tuy vẫn còn tranh thủ xuống giống gối vụ nhưng hầu hết diện tích xuống giống theo lịch đã tránh được rầy di trú, giảm đáng kể diện tích lúa bị dịch bệnh. Nông dân các địa phương trong tỉnh ngày càng đồng tình và tin tưởng cán bộ kỹ thuật.

Ngoài lúa, trên cây ăn trái, rau màu, nhiều đối tượng sâu bệnh hại mới phát sinh như bệnh sọc lá bắp, hiện tượng rễ tre lan vàng trên quýt hồng, bệnh thối củ trên khoai môn, tình trạng nông dân phải sử dụng thuốc đối phó với bọ nhảy hại cải, sâu đục trái đậu nành...cũng luôn làm nữ chi cục trưởng và các đồng nghiệp trăn trở. Từ đó, chị và mọi người đã lên chương trình xây dựng các thí nghiệm, thực nghiệm để anh em cán bộ kỹ thuật có cơ sở, kinh nghiệm và lòng tin khuyến cáo các biện pháp quản lý cho nông dân, đồng thời cũng giúp rèn luyện, nâng cao tay nghề và hiệu quả thực tế trong công việc của từng cán bộ kỹ thuật cơ sở. 

Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp như những con ong chăm chỉ lặng lẽ nhả tơ, đem lại mật ngọt cho đời. Công sức của những người như Nguyễn Thị Ngọc Ánh và đồng nghiệp của chị, qua thời gian đã được trả lời. Ruộng đất nơi đây ngày càng đồng đều, bằng phẳng bớt lồi lõm, nông dân giờ đã quen cách kéo máy sạ hàng, quen sử dụng các giống lúa có chất lượng cao, kháng rầy, quen áp dụng khoa học kỹ thuật như: nên gieo sạ, phun thuốc khi nào để tránh sâu rầy, tiết kiệm chi phí, dùng máy gặt đập để thu hoạch lúa, suốt lúa khi vào vụ thu hoạch đông ken, máy sấy lúa khi mưa lũ...Và điều quan trọng hơn cả, rõ ràng nhất, đó là nhận thức của người dân Ðồng Tháp nay đã khác xưa. Thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ đã đeo bám thành gốc rễ trong tư tưởng, nhận thức trong đầu của những người nông dân qua bao đời nay đâu phải dễ dàng ngày một ngày hai. Họ chỉ nhận ra khi năng suất lúa ngày càng cao, không bị sâu rầy, lúa bán dễ dàng thì họ mới công nhận kỹ thuật của anh là đúng hay sai, được hay không mà thôi. Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Ánh và đồng nghiệp của mình đã làm được điều đó.

Chia tay chị, trong đầu tôi cứ suy nghĩ mãi câu nói: "Tôi không mong gì nhiều cho riêng mình, dù cuộc sống của những cán bộ kỹ thuật như tôi vẫn đang phải vật lộn với miếng cơm manh áo hằng ngày. Nhưng nếu có một điều ước, tôi ước sao tất cả nông dân ngày càng giàu có, sung túc hơn...".

* Chị và những cán bộ kỹ thuật nông nghiệp nơi đây đã làm được cái điều không tưởng, bắt rầy nâu, vi-rút lùn, lùn xoắn lá phải quy phục. Ðội ngũ cán bộ kỹ thuật đã luôn bám sát địa bàn, theo dõi, cụ thể từng trà lúa, từng khu vực. Họ kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết về các nghiên cứu đã có với thực tế ở địa phương mình để có đánh giá, dự báo, thông tin và đề xuất giải pháp phòng trừ dịch hại kịp thời, hữu hiệu...