Huyền thoại từ cái chết

"Lẽ ra tôi vẫn còn một người cha, và đó hẳn là điều rất tuyệt vời" - F.B.Cô-ben (Frances Bean Cobain) kể về cha mình, Kớt Cô-ben (Kurt Donald Cobain). Ông từng được mệnh danh là "người phát ngôn của thế hệ", nhưng đã tự bắn vào đầu mình vào một ngày tháng tư cách đây 21 năm, khi mới 27 tuổi.

Huyền thoại từ cái chết

Cái chết trên đỉnh cao

Phran-xét Cô-ben không phải là một fan (người hâm mộ) của Nirvana, ban nhạc mà cha cô, Kớt Cô-ben là thủ lĩnh. Cô không quan tâm đến dòng nhạc grunge, cho dù: "Từ lúc 15 tuổi, tôi bắt đầu nhận ra rằng cha tôi được phong là giọng ca của thế hệ. Đi đâu tôi cũng nghe người ta phát những bài hát của ông. Ảnh hưởng của ông thậm chí còn lớn hơn sau khi ông mất, bởi văn hóa đại chúng luôn tôn sùng những nghệ sĩ đã khuất".

Đúng vậy. Cho đến bây giờ, Kớt và nhóm Nivarna của ông vẫn là một trong những ban nhạc tạo nên được những ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới lịch sử nhạc rock, với hơn 75 triệu album đã bán ra trên toàn cầu. Và quả thật, có một thời gian, những bài hát đầy tinh thần phản kháng của ông vang lên ở khắp nơi. Những chàng trai trẻ bất cần đời trên khắp thế giới gào thét theo tiết tấu sôi sục của bản Smells like teen spirit,và cố gắng bắt chước cách nhả hơi đầy giận dữ của Kớt trong bản Where did you sleep last night?... Nirvana và Kớt, lúc ấy, đã mở ra một con đường mới, thoát khỏi những lối đi in đầy dấu chân của các thần tượng tiền bối, mà thậm chí còn u uất hơn và giàu tính "bản ngã" hơn.

Khi Kớt kết thúc cuộc đời mình ở đỉnh cao sự nghiệp, Phran-xét mới 20 tháng tuổi, hoàn toàn chưa có ấn tượng gì về những điều này. Nhưng, cô đã phải lớn lên trong bầu không khí thần tượng một cách cực đoan về cái chết của cha mình. Thời điểm đó, Kớt là đại diện lý tưởng của cả một thế hệ trẻ phương Tây bế tắc và nổi loạn: Đẹp trai, tài năng, góc cạnh, tìm đến chất kích thích như một sự phản kháng với đời. Mô-típ những nghệ sĩ tài năng nhưng luôn u buồn và chất chứa bi kịch tạo ra một sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi. Kớt là một Giêm Đin (James Deans, huyền thoại điện ảnh thế giới) của nhạc rock.

Cái chết kỳ bí trên đỉnh cao không những không chấm dứt các kỳ vọng đặt lên vai Kớt, mà còn khuếch đại huyền thoại về ông lên nhiều lần. Công chúng hay dành cho những thiên tài mất sớm, như Gim-my Henđrích (Jimmy Hendrix) hay Ây-mi Oai-nơ-hao-xơ (Amy Winehouse), như Giôn Len-nơn (John Lennon) hay K.Các-pen-tơ (Keren Carpenter)... những tình cảm đầy day dứt kiểu ấy. "Nếu Kớt chỉ đơn giản là một người đàn ông đã từ bỏ gia đình mình theo cách khủng khiếp nhất có thể..." - Phran-xét ngập ngừng khi trả lời tờ Daily Mail: "Nhưng không! Ông đã truyền cảm hứng để mọi người tôn vinh ông như một vị thánh".

Sự bất lực của một huyền thoại

Ngày Kớt tự sát, thế giới như nghiêng ngả. Những đĩa nhạc của Nirvana bỗng dưng lại bán chạy như tôm tươi. Tạp chí Billboardsau này bình luận: "Nếu đó là nhữngfan đích thực, họ đã phải có những đĩa nhạc này từ lâu rồi!". Hai tiếng đồng hồ sau khi giám định vân tay cho thấy người vừa qua đời chính xác là Kớt Cô-ben, hầu hết các cửa hàng băng đĩa gần ngôi nhà của Kớt đã bán sạch sẽ các sản phẩm của Nirvana.

Ba đêm nhạc tưởng niệm được tổ chức liên tiếp sau đó cùng một lễ tưởng niệm ngoài trời tại trung tâm Si-ây-tơn (Seattle), với 5.000 người tham dự.

Nhưng đám đông dường như đang cố dựng lên một biểu tượng mới từ cái chết của Kớt, hơn là thương tiếc ông. Những đứa nhóc cầm tờ rơi về vụ tự tử của Kớt đi phát khắp nơi. Một số nhảy múa trong đài phun nước, như để ăn mừng. Vài người mặc chiếc áo có in dòng chữ "Kớt chết cho tội lỗi của chúng ta". Cái chết của Kớt đã vẽ nên một huyền thoại. Thứ huyền thoại đã bán được vô số chồng đĩa trong nhiều năm qua, và có thể làm cho nhiều người phải đổ xô đi xem bộ phim tài liệu mới về cuộc đời của Kớt, mang tên Montage of Heck, đã bắt đầu công chiếu từ ngày 10-4 năm nay.

Nhưng đoạn băng ghi âm lời của Cao-tơ-ni Lơ-vơ (Courtney Love, vợ Kớt) được phát trong lễ tưởng niệm ấy là một ký ức nhói đau. Sau khi người bạn thân K.Nô-vô-xê-lích (Krist Novoselic) ngỏ lời cảm ơn đám đông bằng một giọng trầm buồn, Cao-tơ-ni nức nở: "Tại sao anh lại không ở lại?

Hắn ta (Kurt) là đồ chết tiệt. Tôi muốn các bạn đồng thanh hô "Đồ chết tiệt!" thật lớn". Đám đông đáp lại, dù có lẽ chẳng ai hiểu được nỗi đau của Cao-tơ-ni.

Phran-xét lý giải: "Kớt cho rằng ông phải hy sinh vì nghệ thuật, vì thế giới yêu cầu ông điều đó. Tôi nghĩ rằng đó là lý do chính khiến ông rời bỏ mọi người và cho rằng mọi người sẽ hạnh phúc mà không có ông. Cha tôi là người đặc biệt tham vọng. Ông ấy muốn ban nhạc thành công. Nhưng, ông ấy cũng chẳng muốn trở thành người phát ngôn của thế hệ đâu!".

Cô cũng phần nào đồng cảm với cha mình, dù tự nhận rằng không thích nhạc của Kớt: "Tôi luôn khóc ngon lành mỗi khi nghe bài Dumb. Đó là sự tóm tắt tư tưởng của Kớt, về bản thân ông, ma túy, và sự bất lực vì cảm thấy rằng mình thực ra không đủ tầm để được cả một thế hệ tôn vinh".

Sống, vốn dĩ đã là một đặc ân

Cái chết đã thật sự biến Kớt thành một kiểu "á thánh", dù trong những ngày cuối đời, anh có lẽ chỉ là một con bệnh trầm cảm không thể cứu vãn.

Nhìn lại cuộc đời của Kớt, nếu tạm gạt bỏ âm nhạc sang một bên, thì chúng ta chỉ nhìn thấy khủng hoảng. Kớt sử dụng ma túy từ năm tám tuổi, khi gia đình tan vỡ; đã từng cố tự tử nhiều lần nhưng bất thành; đã từng bị giằng xé bởi những niềm tin tôn giáo, và luôn luôn nghi ngờ tất cả. Montage of Heckđã "lần đầu tiên cho công chúng thấy Kớt Cô-ben chỉ là một con người bình thường, chứ không phải một huyền thoại".

Song, huyền thoại vẫn tồn tại và mãi được tôn cao, để tiếp tục trở thành biểu tượng củng cố cho một quan niệm: Sáng tạo là bạn đồng hành của đau khổ, và trầm cảm dường như là tấm vé để lên chuyến tàu của những thiên tài. Nhưng Phran-xét không nghĩ vậy. Cô đơn giản chỉ muốn có một người cha, thay vì một "vị thánh tử đạo": "Tôi biết mối quan hệ giữa cha và mẹ là không tốt, nhưng tôi cũng không cố gắng hàn gắn điều đó. Tôi chỉ biết rằng thông qua các đoạn băng hình và những bức thư viết cho tôi... tôi biết cha tôi yêu tôi đến nhường nào".

Nếu còn sống, Kớt bây giờ đã 48 tuổi, không còn cần những buổi tưởng niệm diễn ra hằng năm và những đĩa nhạc tái bản, mà thay vào đó có thể là một gia đình nhỏ với tình yêu của Phran-xét. Có thể danh tiếng của ông sẽ không "lừng lẫy" đến thế. Có thể ông sẽ không còn đủ ngang tàng để thốt lên câu châm ngôn ngạo nghễ: "Tôi thà bị căm ghét khi là chính mình, còn hơn là được yêu mến như một người khác". Nhưng suy cho cùng, không một thứ huyền thoại sinh ra từ cái chết nào đáng giá hơn hạnh phúc lúc còn sống. Và được sống vốn dĩ đã là một đặc ân rồi.