Hiến pháp và cuộc sống

Hiến pháp sửa đổi và vấn đề phát triển kinh tế

Kinh tế là một nội dung quan trọng trong các bản Hiến pháp của nước ta, cũng như Hiến pháp của các nước trên thế giới. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ sáu thông qua ngày 28-11-2013, Điều 50, Chương III tiếp tục khẳng định đường lối, nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời xác định phát triển kinh tế gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Chủ thể xây dựng nền kinh tế, quan điểm phát triển bền vững như thể hiện là một điểm mới trong nội dung kinh tế của Hiến pháp sửa đổi.

Hiến pháp sửa đổi xác định phát triển kinh tế phải gắn kết với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Ảnh:THANH LÂM
Hiến pháp sửa đổi xác định phát triển kinh tế phải gắn kết với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Ảnh:THANH LÂM

Về tính chất, mô hình, các thành phần của nền kinh tế Việt Nam, khác với các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp sửa đổi quy định rất khái quát, không đề cập từng thành phần cụ thể, bảo đảm tính ổn định lâu dài. Cụ thể, Hiến pháp sửa đổi xác định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa (Điều 51). Đây cũng là lần đầu tiên vai trò, vị trí của doanh nhân Việt Nam được ghi nhận trong Hiến pháp.

Tinh thần của quy định nêu trên là không đồng nhất kinh tế nhà nước (trong đó có ngân sách nhà nước và các nguồn lực kinh tế - tài chính khác của Nhà nước) với doanh nghiệp nhà nước. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác được đối xử bình đẳng với doanh nghiệp nhà nước, cùng hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Các văn bản pháp luật và các chính sách sẽ cụ thể hóa Hiến pháp sửa đổitheo tinh thần đó, phù hợp với cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Hiến pháp sửa đổi quy định kinh tế nhà nước là chủ đạo, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường của nước ta. Nhưng cần hiểu đầy đủ và thống nhất như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa XI), đó là: Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta được giữ vững trên cơ sở phát huy vai trò của Nhà nước thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách xã hội, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, chủ yếu thông qua ngân sách nhà nước và các nguồn lực khác của quốc gia.

Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường khác với vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, mệnh lệnh, bao cấp. Có thể nói, quan điểm, tư tưởng đó lần đầu tiên đã được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 và được tiếp tục làm rõ hơn trong Hiến pháp sửa đổi. Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, cùng với vai trò định hướng nền kinh tế, Nhà nước có nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật của thị trường; thực hiện sự phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước, thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân (Điều 52).

Hiến pháp sửa đổi cũng có nhiều quy định mới trên cơ sở tiếp cận mới, đúng đắn và chính xác hơn của các nhà lập hiến về phạm vi, đối tượng các loại tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý (Điều 53); về quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân và những trường hợp Nhà nước thu hồi đất, trưng dụng đất (Điều 54); về ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính công khác, về đơn vị tiền tệ quốc gia (Điều 55). Đặc biệt, đối với quyền sử dụng đất, một nội dung được rất nhiều ý kiến của nhân dân quan tâm đó là vấn đề thu hồi đất và bồi thường. Lần đầu tiên Hiến pháp có quy định khá chặt chẽ: Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật. Luật Đất đai và các văn bản pháp luật, chính sách có liên quan phải quán triệt, tuân thủ và cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp sửa đổi.

Mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường còn được thể hiện trong các điều khác của Chương III quy định vai trò, trách nhiệm của Nhà nước cùng với toàn xã hội, bằng các nguồn lực kinh tế - tài chính đầu tư vào các lĩnh vực tạo việc làm, y tế, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, văn hóa, văn học, nghệ thuật, thông tin, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Cùng với Chương III, Chương II Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Chương IV Bảo vệ Tổ quốc, các chương về bộ máy Nhà nước ở Trung ương và chính quyền địa phương đều có những quy định mới liên quan đến phát triển kinh tế. Chẳng hạn, Chương II có những quy định rất căn bản, là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia như quy định về quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế (Điều 32), quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm (Điều 33), quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc (Điều 35); nghĩa vụ nộp thuế (Điều 47). Hoặc như Chương V, theo Điều 70, Quốc hội quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.

Hiến pháp sửa đổi tiếp tục khẳng định những quan điểm, đường lối, định hướng lớn, đúng đắn, đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới, quan trọng phù hợp với thời kỳ mới trên cơ sở thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng, kế thừa các bản Hiến pháp trước đây, thể hiện ý chí của nhân dân ta về phát triển một nền kinh tế Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Nhiệm vụ của chúng ta tới đây sẽ rất nặng nề, đòi hỏi rất nhiều nỗ lực, công sức, đó là đưa Hiến pháp sửa đổi vào cuộc sống.

Có thể bạn quan tâm