Thừa trụ sở, thiếu con người
Sau chín tháng triển khai, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã cho thấy nhiều kết quả tích cực: Bộ máy gọn hơn, giảm tầng nấc trung gian, chính quyền gần dân hơn, phản ứng chính sách nhanh hơn.
Tuy nhiên, đúng như nhiều đại biểu đã chỉ ra trong các phiên thảo luận, cuộc cách mạng về tổ chức này cũng có nhiều hệ lụy tất yếu cần được hóa giải. Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn chuyên đề giám sát tối cao về tài sản công là “trụ sở làm việc trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp” chính là một quyết sách “đúng và trúng”. Đúng, vì nó chạm vào một lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh thất thoát, lãng phí, lợi ích cục bộ. Trúng, vì nó gắn trực tiếp với một cuộc cải cách tổ chức bộ máy quy mô lớn, khi mọi thay đổi trên giấy tờ đều kéo theo những hệ quả thực tiễn cụ thể: Trụ sở nào sử dụng, trụ sở nào bỏ hoang, tài sản nào chuyển đổi công năng, ai chịu trách nhiệm…?
Nhưng, việc lựa chọn chuyên đề “đúng và trúng” mới là bước khởi đầu. Điều quan trọng hơn là: Cách giám sát như thế nào để không chỉ phản ánh thực trạng, mà còn tháo gỡ được những điểm nghẽn đang hiện hữu, thậm chí là đang tích tụ?
Đại diện cho quan điểm đạt đồng thuận cao, đại biểu Trần Thị Hoa Ry (Cà Mau) phân tích: Khi bỏ cấp trung gian, áp lực công việc không mất đi mà trái lại, dồn toàn bộ xuống cấp cơ sở. Nghịch lý nằm ở chỗ: Trụ sở có thể thừa sau khi sáp nhập, nhưng nguồn lực con người và cơ chế quyết định tại chỗ lại đang thiếu hụt trầm trọng. “Nhiều nhiệm vụ được chuyển xuống cơ sở, nhưng quyền quyết định cuối cùng vẫn nằm ở cấp trên. Điều này khiến mô hình hai cấp đôi khi chỉ mang tính hình thức, làm chậm quá trình giải quyết công việc cho người dân”, bà thẳng thắn bình luận.
Trước khi vấn đề này được đưa ra thảo luận tại nghị trường, biên bản ghi nhận ý kiến tại các phiên thảo luận tổ đại biểu Quốc hội nêu rõ: Sự thiếu quy trình tối ưu cũng như công cụ công nghệ dẫn đến tình trạng cán bộ xã bị “ngập” trong báo cáo và thủ tục hành chính. Áp lực công việc càng trở nên nặng nề hơn, khi năng lực cán bộ có khoảng cách khá xa so với yêu cầu thực tế (không chỉ làm hành chính mà phải thực hiện cả chức năng quản trị). Khi đối mặt với những vấn đề phức tạp về đầu tư, quy hoạch hay chuyển đổi số, nhiều người lúng túng, không dám làm vì sợ sai phạm và thiếu cơ chế bảo vệ cán bộ.
Hướng tới sự toàn diện và khách quan
Để hoạt động giám sát về tài sản công là trụ sở làm việc nói riêng, quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp và các chuyên đề “nóng hổi” khác từ thực tế nói chung đạt được kết quả thực chất, loạt giải pháp mang tính cách mạng về mục tiêu và phương thức giám sát đã được gợi mở ngay từ kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XVI.
Đại biểu Lê Minh Nam (Cần Thơ) bày tỏ tán thành cao với nguyên tắc xuyên suốt “giám sát kiến tạo”, được khẳng định trong báo cáo của Ủy ban Dân nguyện và Giám sát. Thay vì chỉ “tìm sai để xử lý”, giám sát cần hướng tới việc chia sẻ, đồng hành và tìm giải pháp mở đường. Mục tiêu cao nhất là đánh giá toàn diện thực trạng để thiết kế các chính sách tốt hơn, tháo gỡ các nguồn lực đang bị “đóng băng”.
Về phương thức giám sát, đề cập yêu cầu “giám sát dựa trên dữ liệu thực và thời gian thực”, đại biểu Bế Trung Anh (Đắk Lắk) ví von: “Chính phủ chạy bằng dữ liệu, Quốc hội không thể giám sát bằng ký ức”. Ông Bế Trung Anh nhấn mạnh yêu cầu xây dựng một nền tảng số đồng bộ, kết nối dữ liệu quốc gia để đại biểu có thể truy cập, đối chiếu và phát hiện điểm nghẽn ngay khi chúng phát sinh hoặc có dấu hiệu phát sinh, giúp Quốc hội theo kịp tốc độ điều hành của Chính phủ, thay vì giám sát chủ yếu dựa vào các báo cáo định kỳ với những con số định tính.
Không phải lần đầu được nhắc đến, nhưng huy động trí tuệ chuyên gia và bảo đảm tính độc lập của đại biểu khi tiến hành giám sát cũng là yếu tố hết sức quan trọng khi thực hiện giám sát chuyên sâu. Đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương (Khánh Hòa) kiến nghị: Cần có cơ chế rõ ràng để huy động các nhà khoa học, chuyên gia tham gia cùng các đoàn giám sát. Bên cạnh đó, mỗi đại biểu Quốc hội cần nâng cao tính độc lập, tự xây dựng kế hoạch giám sát riêng dựa trên thế mạnh chuyên môn và địa bàn ứng cử, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào chương trình chung của đoàn đại biểu hay các ủy ban.
Cuối cùng, để giải tỏa một trong những trăn trở lớn nhất lâu nay của cử tri là nhiều kiến nghị sau giám sát "chỉ dừng lại ở báo cáo", nhiều đại biểu đã nêu những đề xuất mạnh mẽ về cơ chế hậu giám sát. Các cơ quan của Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội cần tổ chức giám sát lại việc thực hiện các kiến nghị trước đó, nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Kết quả thực hiện kiến nghị giám sát cần được công khai để nhân dân và cử tri cùng theo dõi, đánh giá, tạo áp lực trách nhiệm tích cực lên các đối tượng chịu sự giám sát.
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã khép lại, mở ra một chương trình nghị sự dày đặc và đầy thách thức cho nhiệm kỳ mới. Nỗ lực của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu và từng vị đại biểu Quốc hội, sự phối hợp chặt chẽ, tinh thần “thấu hiểu và chia sẻ” giữa chủ thể giám sát và đối tượng chịu sự giám sát sẽ là “chìa khóa vàng” để biến những kiến nghị trên nghị trường thành những chuyển biến thực tế tích cực ■
Cơ chế hậu giám sát phải được coi là “khâu đột phá”. Theo đó, cần có quy định cụ thể về trách nhiệm và chế tài đối với các cơ quan, cá nhân (nhất là người đứng đầu) chậm thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các kết luận sau giám sát.