1. Hồi tháng 10 năm ngoái, chúng tôi từ Mù Căng Chải qua đỉnh đèo Khau Phạ sương mù dày phủ trắng xuống Nghĩa Lộ lúc cuối chiều. Vùn vụt qua cửa kính xe ô-tô là những ruộng vàng ngút ngàn mơ hồ trong khói lam chiều choàng phủ, những hàng cây xanh, trường học nhuộm trong nắng thu thật lạ. Lần đầu đến Nghĩa Lộ, nơi có cánh đồng Mường Lò lớn thứ nhì vùng Tây Bắc, tôi rất ấn tượng với sự học ở đây khi thấy khuôn viên những ngôi trường rộng rãi, thoáng đãng, tràn ngập cây xanh mà người dân quen gọi: “Trường hạnh phúc”.
Con đường nhựa mang tên Pú Trạng rộng thênh dưới vòm cây xanh rợp bóng dẫn tôi đến Trường phổ thông Dân tộc nội trú, trung học phổ thông Miền Tây. Không ồn ào, không vội vã, không gian thanh bình như thể chính nhịp điệu mùa thu của vùng đất này cũng muốn người ta chậm lại để cảm nhận nhiều hơn, sâu hơn. Cánh cổng ngôi trường hiện ra trước mắt, những hàng phượng, bàng khẽ rung lá xanh trong gió thu nhẹ xào xạc. Vài tốp học sinh đã có mặt, tiếng cười nói rì rầm nhưng không phá vỡ sự yên bình của buổi sớm mai trong lành, khoáng đạt. Không gian ấy khiến tôi có cảm giác như đang bước vào một nơi không chỉ để học mà để sống vui, khám phá bản thân.
Thầy hiệu trưởng Bùi Văn Chuyển đón tôi từ bậc thềm văn phòng. Dáng người cao mảnh, gương mặt sáng, nụ cười hiền mà ấm áp. Bên chén trà Shan Tuyết thơm hương núi rừng, thầy Chuyển khẳng định: “Gắn bó nhiều năm với vùng cao nhiều khó khăn, thiếu thốn, chúng tôi muốn các em học sinh dân tộc ở ngôi trường này cảm thấy mình như đang ở nhà”. Vốn đi nhiều nơi, theo mảng giáo dục nhiều năm, tôi từng nghe câu nói ấy ở nhiều ngôi trường, nhưng ở đây lại thấy như có thêm những lớp nghĩa mới, những điều cụ thể hiện lên như có thể cảm nhận được trực tiếp, từ không gian văn hóa, mỗi tiết học, giờ ngoại khóa, lao động nông trại và câu chuyện bảo tồn văn hóa truyền thống của các em học sinh dân tộc H’Mông, Dao, Tày, Thái, Mường, Khơ Mú…
Thầy Chuyển thông tin nhanh: Trường phổ thông Dân tộc nội trú, trung học phổ thông Miền Tây tiền thân là Trường trung cấp Sư phạm được thành lập năm 1963; đến năm 2003 thuộc phân hiệu II của Trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Yên Bái. Ngày 6/8/2009, UBND tỉnh Yên Bái ra quyết định chính thức thành lập trường với quy mô 12 lớp, chỉ tiêu 420 học sinh/năm học. Nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường là quản lý, giảng dạy, giáo dục, nuôi dưỡng học sinh nhằm tạo nguồn cán bộ có chất lượng cao cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Từ khi thành lập đến nay, nhà trường đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng ba cùng nhiều phần thưởng của tỉnh, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia. Năm học 2025-2026, nhà trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo trong quản lý, giảng dạy và học tập” giai đoạn 2020-2025. Cũng trong năm học này, trường có 13 em đạt giải Học sinh giỏi cấp tỉnh; em Phạm Đức Sơn (lớp 10A1) xuất sắc nhận giải Kim cương cuộc thi tiếng Anh Đông Nam Á; ngoài ra học sinh nhà trường còn đạt một giải Khuyến khích cuộc thi Giáo dục quốc phòng An ninh toàn quốc và một giải Ba cuộc thi An toàn giao thông quốc gia.
Chúng tôi ghé vào lớp 12A1 khi tiết Ngữ văn của cô giáo Nguyễn Thị Thảo đang diễn ra. Không khí học tập tràn đầy hứng khởi khiến tôi bất ngờ. Học sinh không ngồi im lặng nghe giảng mà đang sôi nổi trao đổi, thảo luận. Dưới sự hướng dẫn của cô giáo, các em hào hứng nêu ý kiến về nội dung bài giảng. Một nhóm đứng lên trình bày, nhóm khác lắng nghe rồi đặt câu hỏi. Giáo viên không đứng cố định trên bục giảng mà di chuyển giữa các nhóm để gợi mở, bổ sung. Tôi nhìn những gương mặt học sinh - có em còn rụt rè, có em đã mạnh dạn hơn - nhưng tất cả đều đang tham gia bài học theo cách của mình. Không có áp lực hay sự căng thẳng thường thấy, thay vào đó là sự tập trung tự nhiên cùng lĩnh hội, lý giải và sáng tạo cá nhân về ngôn ngữ, nghệ thuật của tác phẩm.
Tại lớp 11A1, tiết Sinh học về nội dung trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng ở thực vật của cô giáo Hà Biên Thùy cũng diễn ra tương tự. Cô Thùy bắt đầu bằng một câu hỏi giản dị mà gợi mở: “Vì sao cùng trồng một loại cây, nhưng có cây xanh tốt, có cây lại còi cọc?”. Câu hỏi ấy như một viên sỏi nhỏ ném vào mặt hồ tĩnh lặng, làm dấy lên những vòng sóng suy nghĩ. Học sinh không cúi xuống chép bài thụ động mà mạnh dạn trao đổi, tranh luận, đưa ra giả thuyết của riêng mình. Không gian lớp học rộn ràng như một “phòng thí nghiệm mở”, nơi mỗi học sinh đều là một người khám phá. Chính từ những tiết học như thế, “ngôi trường hạnh phúc” không chỉ được xây dựng bằng cơ sở vật chất hay khẩu hiệu, mà bằng những giờ học sinh động - nơi mỗi học sinh đều được tôn trọng, được khơi dậy tiềm năng và tìm thấy niềm vui trong học tập.
2. Cuối chiều, chúng tôi xuống khu “Trường học nông trại” ở một góc khuôn viên. Những luống rau xanh mướt, những giàn cây leo trĩu quả, những khoảng đất trồng rau thơm được chăm sóc cẩn thận, gọn gàng. Hàng trăm học sinh các khối lớp tăng gia sản xuất đông vui như hội, tiếng cười nói vang động một góc trường trong gió thu mát rượi. “Ở khu học nông trại, học sinh không chỉ học cách gieo trồng mà còn học cách hiểu đất, hiểu cây và hiểu chính bài học Sinh học từng tiếp cận trên trang sách”- cô Hà Biên Thùy chia sẻ.
Đi giữa khu nông trại, tôi nghe tiếng học sinh trao đổi về bài học buổi sáng ngay bên vườn rau cải xanh tốt, giàn đỗ lúc lỉu quả. Các em tận mắt chứng kiến những luống rau phát triển mạnh mẽ ở nơi đón nắng tốt và những cây còi cọc khi bị che khuất ánh sáng. Kiến thức không còn là khái niệm trừu tượng mà trở thành điều có thể nhìn thấy, chạm vào và kiểm chứng. Dừng tay tưới nước cho luống cải, em Hà Kiều Thanh (lớp trưởng 11C1) tự tin: “Ở nhà em cũng trồng rau giúp bố mẹ, nhưng đến ở nội trú mới biết cách trồng theo khoa học để có năng suất, chất lượng cao, sạch và ngon hơn”.
Khu nông trại ấy không dừng lại ở vai trò phòng thí nghiệm ngoài trời mà còn gieo mầm cho ý thức lao động và tư duy sản xuất. Những bài học bình dị ấy lặng lẽ mở ra hướng đi cho tương lai - nơi tri thức nhà trường gắn liền với sinh kế và lập nghiệp của các em. Đó mới chính là cái đích đến của việc dạy và học ở một ngôi trường hạnh phúc.
3. Trên đường quay về phòng làm việc của thầy hiệu trưởng, tôi bất ngờ nhận ra: Ở góc sân, một khu trưng bày văn hóa dân tộc hiện ra như “bản làng thu nhỏ”. Không cầu kỳ, phô diễn nhưng đủ đầy những gì gần gũi nhất: nếp nhà sàn mô phỏng, bên trong có khung cửi gỗ, tấm thổ cẩm còn dang dở, chiếc gùi tre ngả màu thời gian, cùng những nhạc cụ dân gian như tính tẩu, khèn…
Thầy Chuyển bảo đó là “Không gian bảo tồn văn hóa dân tộc” của nhà trường. Tất cả được sắp đặt không chỉ để ngắm mà để chạm, thử, nghe và để hiểu. Vào những giờ ngoại khóa, học sinh ngồi tại đó chạm tay vào sợi chỉ, nghe tiếng thoi đưa, tập những động tác ban đầu còn vụng... Văn hóa từ chỗ là ký ức xa xôi bỗng trở nên gần gũi, hữu hình. Đặc biệt, không gian này “sống” cùng học sinh, thay đổi theo mùa, theo chủ đề: hôm nay là không gian lễ hội xuống đồng của người Thái, ngày mai có thể là không gian Tết Độc lập ngày mùa của người H’Mông với bánh dày, khèn lá và sắc màu thổ cẩm. Mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng nhưng hòa chung trong bản giao hưởng đại gia đình.
Đứng bên khung cửi vừa tập dệt vừa cười, em Lò Thanh Trúc (học sinh lớp 10A1, dân tộc Thái) bộc bạch: “Trước đây em chỉ thấy bà dệt chứ không hiểu hết ý nghĩa. Giờ được thầy cô và nghệ nhân chỉ dẫn, em thấy từng hoa văn như có câu chuyện riêng. Em rất tự hào vì mình cũng có thể làm được như bà”.
Một môi trường học tập hạnh phúc đã được hình thành - nơi học sinh lớn lên cùng chính bản sắc của mình. Văn hóa hiện diện trong ánh mắt, nụ cười, trong niềm tự hào lặng lẽ mà sâu sắc. Các em học sinh sẽ mang theo một bản sắc đã được đánh thức và nuôi dưỡng như hành trang đi tới tương lai.