Nằm dưới xác người, rồi đứng dậy
Ông Nguyễn Hồng Mân hơi còng, nhưng bước chân thoăn thoắt dẫn khách vào góc vườn nhà ông Trương Tám. Ở đó có một cái giếng cũ. Ông đứng bên miệng giếng, nếp nhăn giăng đầy trên gương mặt đen sạm, nhưng trí nhớ vẫn rõ rành: “Cụ Trương Thơ năm đó 72 tuổi. Tụi lính Mỹ kéo cụ ra sân, đánh, cắt râu, xô xuống giếng, còn ném lựu đạn”... Ông lại đưa chúng tôi ra góc ruộng phía cuối làng, rà từng dòng chữ trên tấm bia: “11 người bị sát hại ở điểm này. Lớn nhất 62 tuổi. Nhỏ nhất mới 1 tuổi”.
Ngày 16/3/1968, chỉ sau bốn tiếng đồng hồ, 504 người dân Sơn Mỹ bị giết hại - chưa kể hai đứa trẻ đang trong bụng mẹ. Cả làng như bãi tha ma. Người sống sót bỏ đi nương nhờ khắp chốn. Sơn Mỹ trở thành vùng đất hoang, không khói bếp, không tiếng người. Ông Mân năm đó 13 tuổi, thoát chết bằng cách nằm im dưới thi thể những người vừa bị giết. Ông kể, giọng đã lắng: “Lúc đó tôi chỉ biết nín thở, giả chết, không dám nhúc nhích”. Sau đó ông rời quê, tha phương làm thuê, mang theo những đêm ác mộng triền miên. 58 năm trôi qua, cậu bé Mân năm nào đã thành ông lão, nhưng những ký ức thì vẹn nguyên.
Sau ngày 30/4/1975, từng tốp người dân trở về Sơn Mỹ sau tám năm trốn chạy. Họ dựng lều tạm trên nền đất cũ, khai hoang lại ruộng đồng. Ông Mân cũng về, vỡ ruộng, làm nhà, nuôi bốn người con trưởng thành. Cuộc sống của ông bây giờ bình thường đến mức khó tin đối với một người từng đi qua buổi sáng ngày thảm sát. Ông đang trồng gần 2 ha dừa xiêm. Sáng, ông ra vườn dừa tưới nước, dọn cỏ, xem trái nào đã tới lứa. Bà con trong xóm gọi ông là nông dân kiểu mẫu. Ông Mân tóm cách vượt qua đau thương trong chỉ một câu: “Bàn làm, không bàn lùi”.
Nét mặt, ánh mắt ông chun lại - nhìn ra hàng dừa ngoài sân. Những cây dừa xiêm đã cao vượt mái nhà. Ông cười mỉm, nhưng những nét trên gương mặt đều lặng thinh như bức tượng đồng: “504 người Sơn Mỹ đã chết để cho tôi sống... Không bao giờ quên được. Nhưng giờ cũng phải bớt nhớ lại. Phải giảm nhớ để mà sống”.
"Tự lấy dây buộc chân mình..."
Cơ duyên neo chị Mỹ Hạnh (sinh năm 1988) lại quê nhà Sơn Mỹ là một buổi chiều về thăm cha mẹ. Nghe cha nói xóm đang họp bàn làm du lịch cộng đồng, chị tò mò, xin đi cùng. Cha chị - ông Đỗ Tấn Bạch, xóm trưởng - ngăn: “Đâu có chi mà đi”.
Lúc đó Hạnh đang sống và kinh doanh ngoài Đà Nẵng. Ở tuổi 36, chị thấy làng quê nào cũng như nhau. Chị nghĩ: “Bên cạnh mình có Hội An, Đà Nẵng, Quy Nhơn hút khách nước ngoài, khách đi du lịch biển. Còn quê mình, ngoài chứng tích đau thương thì đâu có gì”. Nhưng buổi họp đó đã thay đổi mọi thứ - dù nó không có gì đặc biệt, chỉ là một căn phòng nhỏ, vài chục người dân và những câu chuyện về du lịch cộng đồng xa lạ. Khi ngồi nghe các chú, các bác nhắc lại những ký ức của Sơn Mỹ, chị nhận ra một điều: Những gì bà con đang kể cho nhau nghe mỗi ngày chính là thứ người ngoài muốn được nghe nhất. Không phải câu chuyện về cái chết. Mà là chuyện về cách người ta đứng dậy sau thảm sát, vượt qua đau thương để sống. Chị nhớ: “Hôm đó tôi suy nghĩ nhiều - nơi khó khăn hơn, người ta còn làm du lịch được, tại sao quê mình có điểm nhấn, có sự khác biệt mà không làm?” - chị tự hỏi, rồi quyết định ở lại quê làm du lịch cùng bà con.
Gia đình Hạnh mất năm người trong buổi sáng ngày 16/3/1968. Cha chị năm đó mới 8 tuổi. Đến thế hệ của chị, 12 năm học phổ thông, năm nào cũng được trường dẫn lên khu chứng tích nghe thuyết minh, nghe những người sống sót kể lại. Điều đó, hóa ra, đã thành một thứ hiểu biết sống - khác hẳn với khách từ xa đến tham quan chứng tích, nghe thuyết minh, rồi về.
Đầu năm 2025, Hợp tác xã Du lịch cộng đồng Yêu chuộng hòa bình Sơn Mỹ ra đời. Hạnh được bầu làm giám đốc. Các chú, các cô trong xóm gọi đùa: Giám đốc không lương. Nhưng phía sau câu đùa ấy là một sự thật: Không lương, không kinh phí, không trụ sở, không nhân viên chuyên trách. Tiền góp vốn của mười mấy thành viên (tuổi từ 50 đến 80) tham gia Hợp tác xã - mỗi người chỉ 1 triệu đồng. Nhiều người còn chưa góp vì chưa thấy hiệu quả. Không có nhà hàng, không có trung tâm du khách. Một mình Hạnh vừa điều phối, vừa lo truyền thông, vừa duy trì kinh tế gia đình, thậm chí lo cả việc dẫn khách.
Để bà con thấy mô hình có thể sinh ra tiền thật, Hạnh tự bỏ tiền túi đầu tư. Thửa ruộng ngập úng của ông Bạch được chuyển sang trồng sen - giống sen ta, hoa hồng, hương dịu. Chị học cách thu hoạch hoa, lá, hạt, củ, ngó; học ướp trà sen; trang trí đầm để du khách có thể đến ngắm, chụp ảnh, ngồi thưởng trà giữa hương sen và gió biển. Vài hộ có ruộng ngập úng chung quanh thấy vậy cũng bắt đầu làm theo.
Nhưng làm được một đầm sen đã khó, giữ cho mô hình vận hành được còn khó hơn. Nhiều khi có đoàn khách đến bất ngờ, Hạnh lại tất tả đi tìm người. Các cô, các chú trong Hợp tác xã là nông dân, ai cũng đang ngoài đồng. “Có hôm khách đứng chờ ở làng còn tôi chạy hết cánh đồng này sang cánh đồng khác để tìm người. Gọi điện không được vì có chú không mang điện thoại theo”, Hạnh kể rồi cười. Những lúc như vậy, cả làng lại trở thành “trung tâm điều phối” bất đắc dĩ: người này thấy khách thì báo người kia, người kia đi gọi người khác... Sự lúng túng ấy đôi khi khiến chị áp lực, nhưng cũng cho thấy mô hình du lịch cộng đồng ở Sơn Mỹ vẫn đang được dựng xây hoàn toàn từ nhịp sống thường ngày của người dân.
Nhiều người hỏi Hạnh sao không quay lại Đà Nẵng? Hạnh nhìn ra mặt đầm, nói: “Tôi tự lấy dây buộc chân mình vào đây”. Chủ và khách cùng cười. Nhưng ai cũng hiểu đó không phải câu nói đùa.
Ký ức trở thành nền móng
Hôm biển động, tàu không thể ra đảo Lý Sơn, nhóm sinh viên sư phạm của Trường đại học Đồng Nai phải ở lại Sơn Mỹ. Không ai ngờ sự cố ấy lại thành chuyến đi đáng nhớ nhất. Tối đó, sau bữa cơm cùng bà con, họ ngồi rất lâu ngoài sân trò chuyện cùng người dân. Họ đặt ra câu hỏi, vì sao người Sơn Mỹ có thể tha thứ? Hỏi bằng cách nào một vùng đất từng phủ đầy khói lửa lại có thể bình yên như hôm nay? Đạp xe quanh làng, theo ông Mân đến từng điểm, họ mới biết dấu tích nằm rải rác khắp nơi. Trước khi lên xe về, một sinh viên nói: “Mai này đứng trên bục giảng, chúng tôi sẽ kể về thảm sát Sơn Mỹ bằng một tâm thế khác”.
Đó cũng là điều Hạnh hướng đến từ đầu: để du khách thấy ở khu chứng tích sự tàn khốc, rồi bước vào làng và thấy điều ngược lại. Với Hợp tác xã, du lịch cộng đồng không phải để kể lại vụ thảm sát, mà điều bà con muốn giữ lại là hành trình hồi sinh của Sơn Mỹ. Những khu vườn dừa xanh, những đầm sen đang nở, những mái nhà bình yên hôm nay chính là phần tiếp theo của câu chuyện mà khu chứng tích chưa thể kể hết.
Chúng tôi rời xóm, những đóa sen vươn cao khỏi mặt nước, cánh còn đọng những giọt sương. Chếch bên kia là khu chứng tích. Một bên là ký ức. Một bên là sự hồi sinh. Người Sơn Mỹ đã đi qua quãng đường này suốt nửa thế kỷ. Ông Mân nằm dưới xác người rồi đứng dậy trồng dừa, trở thành nông dân kiểu mẫu. Những người mẹ mất chồng, mất con đã gượng dậy nuôi lớn những đứa trẻ còn lại. Hạnh mang ký ức của gia đình có năm người bị sát hại để dựng nên một Hợp tác xã mang tên yêu chuộng hòa bình, mỗi người đều chọn cách sống vượt lên khó khăn, gian khổ, sình lầy. Giống như những đóa sen.
Vừa chia tay khách, ông Mân đã lặng lẽ quỳ trước khu mộ đầu làng. Gió từ phía biển thổi qua đầm mang theo hương sen quyện cùng nhang khói. Ông nói rất khẽ, nhưng từng chữ như đóng xuống lòng đất: “Nhờ máu của bà con tôi, tôi mới còn mạnh mẽ đến hôm nay”. Người ta vẫn nói sen đẹp vì vươn lên từ bùn đất. Nhưng ở Sơn Mỹ, sen còn mọc lên từ ký ức. Từ một vùng đất từng thấm máu. Từ những con người từng đi qua tận cùng đau thương.