Nguy cơ mai một nghề truyền thống
Cuộc sống đã đổi thay nhiều, cả xã đảo Tân Hiệp đang phát triển du lịch, là điểm đến của nhiều du khách trong nước và quốc tế. Hiện trên đảo có khoảng 2.500 người dân sinh sống, nhưng chỉ còn một số ít người thật sự yêu nghề, vẫn lặng lẽ, âm thầm níu giữ nghề đan võng ngô đồng.
Nghệ nhân Lê Thị Kề, năm nay đã 88 tuổi, kể rằng, bà được học hỏi từ mẹ chồng nghề truyền thống từ nhiều đời này. Nhìn nụ cười hiền để lộ hàm răng đen và đôi bàn tay chai sạn của bà Kề, ít ai biết rằng đó từng là đôi bàn tay khéo léo nhất nhì trên đảo. Gần cả đời người bền bỉ tước vỏ, se sợi và đan nên những chiếc võng ngô đồng trứ danh, giờ đây, sức khỏe của bà Kề đã không còn bảo đảm để ngồi đan võng. Dẫu vậy, để nghề thủ công truyền thống đặc trưng không bị mai một, hằng ngày, nghệ nhân Lê Thị Kề vẫn tỉ mỉ kể chuyện và chỉ dạy, trao truyền lại cho những phụ nữ cùng lớp trẻ về cách chọn cây ngô đồng đủ độ bền và dai, cách tách vỏ, ngâm ủ, gột rửa, se thành sợi và các nút thắt để cho ra đời một chiếc võng.
Nghệ nhân Lê Thị Kề hé mở: “Để tìm được cây ngô đồng đủ độ lấy vỏ, thường đàn ông trên đảo phải vào rừng tìm chọn những cây to bằng cườm tay, thân thẳng. Vị trí đốn cây phải không có mắt và cách mặt đất từ 20 cm trở lên để cây tiếp tục nảy chồi, lên cây. Sau khi chặt thì dùng một đầu cây đập mạnh vào đá cho giập rồi dùng tay tước lớp vỏ ra khỏi thân để đem về ngâm ủ. Qua 15-20 ngày, vỏ cây sẽ được mang đi giặt cho đến khi nước trong thì tách thành sợi và phơi dưới nắng. Khi chuyển thành màu trắng ngà óng ánh, được gọi là manh đồng thì mới đem đi se sợi đan võng”.
Nghệ nhân Huỳnh Thị Út, 57 tuổi, học trò của nghệ nhân Lê Thị Kề cho biết: “Với người thợ mới, se dây là bài học “vỡ lòng”. Dây mà không được se đều thì khi đan những nút thắt “con chằng” sẽ không bao giờ rút được. Bởi vậy, đối với người thợ giỏi, để đan xong một cái võng phải mất gần hai tháng tập trung làm việc. Người chưa thạo thì mất tới ba tháng và người mới học thì mất nhiều thời gian hơn nữa”.
Theo Ủy ban nhân dân xã Tân Hiệp, hiện còn lại bảy nghệ nhân thành thạo kỹ thuật đan võng, trong đó, lớn tuổi nhất là nghệ nhân Nguyễn Thị Quỳ. Do tuổi tác đã cao, bà Quỳ chỉ lặng lẽ nhìn những người trẻ hơn cần mẫn như đang đan bện ký ức vang bóng vào thời hiện đại. Bà cũng mừng vì nghề đan võng đang “sống trên đôi tay” của các nghệ nhân Lê Thị Kề, Huỳnh Thị Út và Ngô Thị Lê. Dẫu vậy, các cô, các bà vẫn chưa thể an lòng khi mỗi ngày tuổi một cao mà chưa có lớp kế cận. Trước đây cũng từng có một vài người theo học, nhưng thời gian cho ra một chiếc võng khá dài, thêm vào đó là áp lực của cuộc sống cơm áo... nên họ bỏ giữa chừng.
“Người đan phải miệt mài ngồi nhiều giờ liền mỗi ngày, cẩn thận se lại thành từng múi, rồi bện lại thành nhiều đốt. Đan võng đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ, kiên trì, phải bện vào đó tâm tư, tình cảm của người phụ nữ miền biển. Mỗi ngày, chúng tôi cùng nhau làm việc, không phải cố để kiếm tiền. Đó là thú vui của tuổi già và mong muốn níu giữ nghề thủ công truyền thống đặc trưng của Cù Lao Chàm”, bà Kề tâm sự.
Để nghề sống cùng du lịch
Năm 2009, từ khi được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, du lịch ở Cù Lao Chàm bắt đầu phát triển. Nghề đan võng ngô đồng từ đó cũng được du khách trong và ngoài nước biết đến rộng rãi hơn. Năm 2024, từ những giá trị đặc trưng của nghề gắn với bề dày văn hóa-lịch sử lâu đời của bao lớp cư dân, nghề thủ công truyền thống đan võng ngô đồng đã được Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch ghi tên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là niềm vui, cũng là động lực để một số nghệ nhân tích cực tìm... truyền nhân.
Trước nguy cơ mai một nghề truyền thống, thời gian qua, chính quyền cùng các nghệ nhân, một số người trẻ nỗ lực duy trì và gìn giữ. Là một trong những đơn vị giữ gìn và phát triển nghề đan võng ngô đồng, chị Nguyễn Thị Hồng Thúy, đồng sáng lập Hợp tác xã Mộc Chàm, xã Tân Hiệp chia sẻ: “Hiện nay, đa số nghệ nhân biết đan võng đều đã lớn tuổi. Để duy trì nghề, trước tiên phải giải quyết bài toán hài hòa kinh tế. Bởi thời gian làm ra một cái võng rất lâu, vì thế, bên cạnh đan võng, chúng tôi phát triển thêm các dòng sản phẩm khác từ sợi của vỏ cây ngô đồng như túi xách, vòng tay, túi đựng bình nước, đồ trang trí... để gia tăng giá trị và cải thiện thu nhập cho người dân”.
Cũng theo chị Thúy, Hợp tác xã Mộc Chàm không làm một mình mà chọn liên kết với tất cả các hộ dân làm ra sản phẩm thủ công từ sợi của cây ngô đồng và nhận thu mua. Từ đó, chúng tôi bán sản phẩm, góp phần quảng bá thương hiệu, giúp người dân có thu nhập.
Thời gian qua, Hợp tác xã Mộc Chàm thường xuyên duy trì chương trình Workshop “Giữ sợi giữ nghề-tìm hiểu về nghề truyền thống đan võng”. Du khách được trực tiếp tước sợi, se sợi và tự làm cho mình một cái vòng tay để mang về làm quà. Đặc biệt tại đây, các nghệ nhân sẽ trực tiếp đan võng, hướng dẫn cách làm và trực tiếp kể cho du khách nghe những câu chuyện về cây ngô đồng cùng quy trình làm ra chiếc võng. Đây là một trong chuỗi du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa mà Hợp tác xã Mộc Chàm đang hoàn thiện với tên gọi “Chạm Đảo-Chạm vào đời sống bản địa”. Đó là cách góp phần vào việc gìn giữ nghề thủ công truyền thống đặc trưng mấy trăm năm của Cù Lao Chàm.
Chia sẻ với chúng tôi, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tân Hiệp Nguyễn Minh Đức cho hay: “Địa phương sẽ mở các lớp đào tạo và dạy nghề thủ công truyền thống cho các đối tượng là lớp người trẻ trên đảo. Gắn nghề truyền thống đan võng vào hoạt động du lịch. Đồng thời mở các lớp Workshop với đối tượng là các em học sinh để khơi dậy niềm đam mê về nghề. Đặc biệt, tiếp tục tạo điều kiện để mở rộng diện tích cây ngô đồng ở các cung đường trên đảo và đa dạng thêm các sản phẩm du lịch, mở rộng quy mô lễ hội hoa ngô đồng được tổ chức hằng năm”.
Bao đời nay, hễ cứ đến đầu đầu tháng 8, hoa ngô đồng nở đỏ rực, trở thành một biểu tượng đẹp nơi đây. Dưới búp hoa màu đỏ, hạt ngô đồng bắt đầu đậu trên những cánh lá. Trong cái nắng của mùa thu trên đảo Cù Lao Chàm, hạt ngô đồng bắt đầu chín, cánh được tách ra sẽ nâng hạt chao nghiêng, xoay tròn trong không gian, nhờ gió mang đi và sinh sôi nảy nở.
Giữa không gian nhỏ của Hợp tác xã Mộc Chàm, bà Kề vẫn cần mẫn ngồi kể chuyện. Cô Út, cô Lê vẫn ngồi đan võng. Kế bên là các em học sinh chăm chú học cách se sợi. Những hình ảnh đẹp đó đem lại hy vọng: Cùng với sự phát triển của “viên ngọc” Cù Lao Chàm, nghề đan võng cũng sẽ được gìn giữ, phát huy, tiếp tục khẳng định giá trị sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương.
Là một sản phẩm thủ công được đan trong hai đến ba tháng mới hoàn thành, giá một chiếc võng ngô đồng loại sáu sợi dao động từ 12-15 triệu đồng. Thời gian sử dụng từ 15-20 năm và có thể trên 20 năm nếu được bảo quản tốt.