Khát vọng định danh trà Trường Sơn Đông ra thế giới

Vượt đèo Violắk, giữa mênh mang núi rừng Trường Sơn Đông, những đồi chè xanh trải dài theo triền dốc hiện ra giữa cao nguyên Kon Plông (tỉnh Quảng Ngãi). Gần tám năm gây dựng, cùng sức người bền bỉ, từ những gốc chè đầu tiên bén rễ nơi đất lạnh nay đang dần hình thành vùng chè đặc sản.

Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn hình thành vùng chè đặc sản và thay đổi diện mạo cao nguyên Kon Plông, Quảng Ngãi.
Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn hình thành vùng chè đặc sản và thay đổi diện mạo cao nguyên Kon Plông, Quảng Ngãi.

Cơ duyên của lần… mắc kẹt

Trong màn sương bảng lảng của dãy Trường Sơn Đông, trước mắt tôi những triền chè xanh mướt nối nhau đến tận chân trời, thi thoảng lại có những nhóm lao động hăng say thu hái chè. Trước đây, nhắc đến miền núi cao xã Kon Plông, người ta nhớ những cánh rừng thông hun hút, những cơn mưa phùn kéo dài và cái lạnh len lỏi quanh năm… Giờ đây, những đồi chè trải dài trên đỉnh núi lại là một gợi dẫn mới mẻ về miền đất này. Chỉ gần chục năm trước thôi, đời sống của nhiều hộ dân đồng bào Xơ Đăng phụ thuộc vào cây mì (sắn) và một số cây trồng ngắn ngày. Song hiệu quả kinh tế không cao, giá cả bấp bênh khiến thu nhập của người dân thiếu ổn định. Người có công phát hiện ra thế mạnh của vùng đất này là anh Nguyễn Công Hội, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn.

Dáng người cao, ánh mắt cương nghị, anh Nguyễn Công Hội đã trở thành bạn của người dân ở nhiều bản làng xã Kon Plông. Hộ nào muốn trồng chè, cần tư vấn kỹ thuật hay cải tạo đất, anh cùng cán bộ kỹ thuật tận tình hướng dẫn. Ước mong của anh là mở rộng diện tích chè, giúp bà con vùng cao có thêm một giống cây trồng cho nguồn thu bền vững.

Song ít ai biết, cơ duyên đưa vợ chồng anh đến Kon Plông lại bắt đầu từ một lần... mắc kẹt. Mùa mưa năm 2019, trên đường khảo sát vùng quế Trà My (tỉnh Quảng Nam cũ) trở về tỉnh Gia Lai, sương mù dày đặc khiến anh phải dừng chân qua đêm ở xã Kon Plông. Kinh nghiệm hơn ba mươi năm gắn bó với nghề chè ở miền quê tỉnh Phú Thọ giúp anh nhận ra những cây chè bản địa cổ thụ giữa rừng. Trong màn sương lạnh giữa đại ngàn, anh nhìn thấy điều mà nhiều người chưa từng để ý. “Tôi cảm nhận được hương chè từ những cây cổ thụ mọc giữa rừng. Những cây chè cổ thụ sương phủ quanh năm ở độ cao hơn 1.200m, khí hậu mát lạnh, biên độ nhiệt lớn cùng lớp đất phong hóa là điều kiện hiếm có để tạo nên những dòng trà thượng hạng”, anh Hội nhớ lại.

Rời quê hương Phú Thọ, nơi đang vận hành nhà máy chế biến chè xuất khẩu công suất khoảng 2.000 tấn mỗi năm, anh lên miền cao nguyên Đông Trường Sơn tạo lập vùng chè mới. Anh cùng các chuyên gia Viện Nghiên cứu Chè Việt Nam (nay là Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chè) đã dày công kiểm nghiệm nguồn nước, mẫu đất, không khí và nhận ra vùng núi non Kon Plông đủ điều kiện trở thành vùng trồng cây chè cho hiệu quả và giá trị kinh tế cao.

123.jpg
Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn hình thành vùng chè đặc sản và thay đổi diện mạo cao nguyên Kon Plông, Quảng Ngãi.

Sau hai năm đổ mồ hôi trồng thử nghiệm, đất đai không phụ công người, các giống chè đặc sản từ Viện Nghiên cứu Chè Việt Nam đã mang đến kết quả vượt mong đợi. Cây chè phát triển tốt, chất lượng vượt trội, đặc biệt sáu giống chè gồm PH8, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, PH11, Shan Tuyết và giống Lai 1 đạt chất lượng vượt kỳ vọng. Tháng 9/2020, Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn chính thức hoạt động. “Đã có lúc nhiều người bảo tôi gàn dở khi để lại nhà máy nghìn tấn ở Phú Thọ để lên đây chịu khổ. Nhưng thấy bà con mình còn nghèo, thấy vùng chè tiềm năng này bỏ ngỏ, tôi chọn ở lại. Dành nhiều thời gian, công sức và chi phí đầu tư, tôi chỉ mong để lại một vùng chè đặc biệt cho mai sau”, anh Hội chia sẻ.

Hy vọng thoát nghèo

Sau gần bốn năm chăm sóc, vườn chè 3,5 sào của già làng Đinh Văn Rinh, thôn Vi Choong, đã phủ kín một màu xanh non. Cả đời gắn bó dưới những cánh rừng thông, già Rinh chưa từng nghĩ quê hương mình sẽ có ngày hình thành những nương chè bạt ngàn như vậy. Đã có lúc, ông từng tính chuyện bán đất chia cho các con. Nhưng khi tham gia Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn, chuyển đổi cây trồng, ông lại đổi ý, quyết vun trồng cho những gốc chè bén rễ, sinh trưởng khỏe mạnh. Bởi ông tin, nhiều bà con sẽ thoát nghèo từ nghề mới này. Già làng Đinh Văn Rinh vui mừng kể: “Chè có ở đây từ lâu nhưng chỉ vài hộ trồng để uống trong nhà. Chưa ai nghĩ, có thể kinh doanh được từ cây chè”. Anh A Duẩn (thôn Tu Cần) trước đây chuyên canh sắn, song thu nhập chẳng được là bao do địa hình dốc nên năng suất và hiệu quả kinh tế thấp. Khi có hướng chuyển từ cây sắn sang trồng chè, anh hồ hởi tham gia. Anh Duẩn tâm sự: “Trước đây chúng tôi trồng sắn, mỗi năm chỉ đào củ được một lần, nhưng trồng chè, mỗi năm hái được đến 10 lần, thu nhập cao từ sáu đến bảy lần trồng sắn”.

Ngay bên Quốc lộ 24, vừa qua đèo Violắk là đồi chè hơn 2 ha nằm cạnh homestay Thảo Nguyên. Những luống chè cong mềm theo triền dốc, giữa đồi là sắc tím hoa mua và những khóm cẩm tú cầu, tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp trên cung đường dẫn vào Khu du lịch sinh thái Măng Đen. Năm 2020, ông Bùi Văn Tân rời tỉnh Bình Định (cũ) lên xã Hiếu, huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum cũ) lập nghiệp. Chứng kiến những đồi chè đầu tiên của Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn phát triển xanh tốt, ông quyết định mua đất, trồng chè và gắn bó với vùng cao đến hôm nay.

Liên kết với người dân bản địa để mở rộng vùng chè là định hướng chiến lược của Hợp tác xã. Sau năm năm, hợp tác xã đã phát triển vùng nguyên liệu hơn 150 ha, với năng suất bình quân đạt hai đến ba tấn búp tươi/ha/năm. Với giá chè tươi Hợp tác xã thu mua bình quân 10.000-20.000 đồng/kg, doanh thu của thành viên Hợp tác xã đạt trung bình 100-200 triệu đồng/ha. Ngoài ra, Hợp tác xã còn giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 40 lao động địa phương, chủ yếu là đồng bào Xơ Đăng, với mức thu nhập từ 7 đến 9 triệu đồng/tháng. Đối với nhiều gia đình vùng cao, đây là nguồn thu nhập ổn định, góp phần cải thiện đời sống.

Tìm cách nâng cao giá trị vùng chè

Nhờ khí hậu mát lạnh quanh năm cùng quy trình canh tác nghiêm ngặt đã tạo nên những búp chè có hương thơm thanh, vị ngọt hậu, được các chuyên gia trong ngành đánh giá cao. Hợp tác xã tích cực chế biến trà và các loại cây dược liệu theo tiêu chuẩn VietGAP, theo đó đã phát triển hơn 10 dòng sản phẩm khác nhau; trong đó có ba sản phẩm được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước xây dựng thương hiệu chè Kon Plông, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Chia sẻ với phóng viên, Bí thư Đảng ủy xã Kon Plông Lê Đức Tín cho rằng: Cây chè đang mở ra một hướng phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. Tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, vùng chè góp phần hình thành nông sản đặc trưng gắn với du lịch sinh thái cho xã Kon Plông và vùng lân cận.

Chuyển đổi sang trồng chè, gây dựng thương hiệu đã khó, nhưng để gìn giữ, phát huy thương hiệu ấy còn khó khăn hơn. Bởi thế anh Nguyễn Công Hội, người đã từng đưa sản phẩm trà tỉnh Phú Thọ đến nhiều thị trường châu Á đang tiếp tục hành trình mang thương hiệu trà Kon Plông đi xa. Những chuyến tham dự Triển lãm Trà quốc tế Trung Quốc năm 2026 tại tỉnh Chiết Giang, sự kiện “Ngày Quốc tế Trà” và Lễ hội Trà - Con đường Tơ lụa ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, giúp anh tìm hiểu công nghệ chế biến hiện đại và mở ra cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị ngành trà toàn cầu.

htx1.jpg
Những luống chè uốn lượn theo sườn đồi, hòa cùng màu xanh thẫm của rừng nguyên sinh tạo nên một bức tranh khoáng đạt giữ chân bao du khách.

Chiều xuống trên đỉnh Trường Sơn Đông, sương lại bảng lảng phủ kín những đồi chè. Từng luống chè xanh vẫn lặng lẽ vươn mình giữa đại ngàn, như chính niềm tin của những người đã chọn gắn đời mình với vùng đất này. Trong đôi mắt người dân đang ánh lên niềm tin về sự tiếp tục đổi thay, phát triển của một vùng đất. Mà sự đổi thay đó, bắt đầu từ sự liên kết, như cách diễn giải của già làng Đinh Văn Rinh - ông nói: “Tưởng liên kết chỉ đơn giản như cái bắt tay, thế mà nó lại mở ra cánh cửa thoát nghèo cho bà con!”.

Bây giờ, trên triền đồi, dốc rẫy, những nương chè tươi xanh đang dần phủ kín nhiều sườn đồi ở Trường Sơn Đông. Từng luống chè nối nhau uốn lượn giữa sắc tím hoa mua, thấp thoáng mái nhà của đồng bào Xơ Đăng, Mơ Nâm… tạo nên sức sống mới nơi cao nguyên Măng Đen-Kon Plông.