Từ đại công trình đến dòng sông ô nhiễm
Tôi tìm về cống Xuân Quan, công trình đầu mối của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Gần bảy thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày 1/10/1958, khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát nhát cuốc mở đầu công cuộc xây dựng đại công trình thủy nông lớn nhất miền bắc. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công trình có sự tham gia của hàng vạn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ các cơ quan Trung ương, địa phương. Thời điểm cao nhất lên đến 30 nghìn người. Để có được mặt bằng xây dựng công trình, gần 150 hộ gia đình làng cổ Bát Tràng đã tự nguyện di dời nhà ở, hiến đất xây kênh.
Giờ đây, cống Xuân Quan vẫn vững chãi giữa một vùng đồng bằng đã đổi thay. Từ phía cửa lấy nước, dòng phù sa đỏ nặng của sông Hồng lặng lẽ theo những cánh cửa mở dưới chân đê, nhập vào hệ thống kênh dẫn rồi tỏa đi khắp những cánh đồng. Đứng bên dòng nước ấy, thật khó hình dung nơi đây từng là một đại công trường với hàng vạn con người tham gia góp sức. Nhưng ký ức của các nhân chứng từng tham gia lao động, chứng kiến thì vẫn còn nguyên vẹn. Trong câu chuyện của họ có tiếng cuốc, tiếng xẻng, âm hưởng của những đoàn người nối dài gánh đất tiếng hát, tiếng cười ghi dấu những ngày lao động không mệt mỏi.
Ông Lê Ngọc Kỉnh, xã Phụng Công, tỉnh Hưng Yên vẫn nhớ như in những ngày mà các lực lượng tham gia làm việc với không khí khẩn trương, đông như đi hội. “Xưa gọi là kênh, sau này là sông. Người dân từ khắp nơi về làm công trình. Người gánh đất, người đào đất, người xây cống... Trong đó, có nhiều người làng tôi, có cha mẹ tôi... Công trường lúc nào cũng rộn ràng. Công trình hoàn thành chỉ sau bảy tháng, vượt tiến độ trong niềm vui lớn của người dân”, ông Kỉnh kể. Ngày đó, dù là chàng thanh niên mới lớn, ông đã có thể giúp những công việc giản đơn. Theo ông Kỉnh, trước khi có kênh, nhiều cánh đồng thường xuyên khô hạn, việc canh tác phụ thuộc vào mưa nắng, mùa được mùa mất. Rồi con kênh hình thành, nước sông Hồng được dẫn về các cánh đồng, làm nên những mùa vụ bội thu.
Không khí những ngày xây dựng kênh Bắc Hưng Hải cũng lưu dấu trong ký ức ông Nguyễn Hồng Phát, 78 tuổi. Lần giở những bức ảnh đã nhuốm màu thời gian, ông Phát chỉ cho tôi từng gương mặt gắn với công trình mà gia đình ông có một mối duyên đặc biệt. Trong số ấy có ông Hà Kế Tấn, người từng trực tiếp chỉ huy công trường Bắc Hưng Hải, sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Thủy lợi, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Trị thủy và Khai thác sông Hồng. Ông Phát cũng chia sẻ về cha mình - cụ Nguyễn Văn Tuệ, người được giao làm trưởng trạm Quản lý công trình Xuân Quan khi công trình hoàn thành. Với gia đình ông Phát, Bắc Hưng Hải không chỉ là một công trình thủy lợi lớn, mà còn là một phần ký ức gia đình, nơi những con người từng đi qua gian khổ kháng chiến, để rồi tiếp tục gặp nhau trong công cuộc phục vụ sản xuất và chăm lo cuộc sống nhân dân.
Ông Phát tự hào: “Những ngày ấy điều kiện thi công còn vô cùng thiếu thốn, nhưng nhân dân ta đã làm nên cả một đại công trình. Sau đó, nhiều công trình thủy lợi quy mô lớn tiếp tục được đầu tư xây dựng trên khắp miền bắc và cả nước. Mỗi công trình một quy mô, địa hình khác nhau, nhưng đều có câu chuyện riêng, góp thêm những mạch nước cho đồng ruộng và đời sống. Tuy vậy, Bắc Hưng Hải vẫn có nét khác biệt”.
Bà Nguyễn Thị Yến, thôn 5 xã Phụng Công giãi bày: “Ngày xưa, ở công trình thân thương này cá tôm đầy ắp. Những đứa trẻ lớn lên bên dòng nước, quen với bến sông như một phần tự nhiên của tuổi thơ. Đến đời cháu chắt, dòng sông vẫn còn đó, nhưng không còn được tắm sông nữa”.
Đứng bên Bắc Hưng Hải, người ta không khỏi chạnh lòng. Dòng nước từng mang phù sa về ruộng đồng nay nhiều nơi đen đặc, mang theo rác thải và nước thải. Một công trình từng làm nên niềm tự hào của cả vùng đang oằn mình dưới sức nặng của ô nhiễm. Theo nhiều người dân, trước kia, mỗi khi nạo vét bùn đất dưới lòng sông, người dân còn mang lớp bùn ấy về cải tạo ruộng, trồng ngô, trồng khoai. Đất ven sông vì thế gắn với từng mùa vụ, từng bữa cơm của người dân. Bây giờ, những triền bờ vẫn xanh ngút mắt. Cây cối, cây cảnh, cây công trình vẫn được trồng dọc theo hành lang sông. Chỉ có một nghịch lý là ngay bên dòng nước ấy, người ta lại phải lấy nước giếng khoan, nước mưa để tưới.
Đâu là lời giải?
Theo tính toán của ngành chức năng, mỗi ngày đêm có khoảng 538.838m³ nước thải xả vào hệ thống Bắc Hưng Hải. Nguồn thải phân bố trên toàn lưu vực, trong đó Hưng Yên chiếm khoảng 31%, Hải Phòng 21%, Hà Nội 13% và Bắc Ninh hơn 9%. Nhiều nguồn xả chưa được kiểm soát hoặc xử lý đạt yêu cầu, khiến ô nhiễm kéo dài.
Những năm qua, không ít lần các cơ quan chức năng, địa phương có kế hoạch xử lý ô nhiễm cho dòng kênh này. Ngày 10/10/2022 Bộ Tài nguyên và Môi trường (cũ) ban hành Quyết định số 2625/QĐ-BTNMT về Kế hoạch kiểm soát, xử lý ô nhiễm nguồn nước hệ thống công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải; Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội từng xây dựng Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu Bây - Bắc Hưng Hải giai đoạn 2021-2025; ngày 16/7/2024, Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên ban hành Công văn số 1985/UBND-KT2 về việc tăng cường giải pháp kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh… Thế nhưng vẫn chưa có biện pháp khả thi nhất.
Đầu năm 2026, Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 247/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường. Kế hoạch đặt ra chín nhiệm vụ trong năm 2026 để các bộ, ngành, địa phương liên quan triển khai thực hiện. Trong đó, có việc cải thiện chất lượng môi trường một số đoạn sông bị ô nhiễm nghiêm trọng trên các sông Ngũ Huyện Khê, Tô Lịch và Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải.
Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ trình Chính phủ đưa việc xử lý ô nhiễm hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải vào danh mục dự án cấp bách, với tổng kinh phí khoảng 38.500 tỷ đồng. Trong đó, Bộ bố trí 6.000 tỷ đồng, phần còn lại do Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng chịu trách nhiệm.
Tại một tọa đàm gần đây, GS,TS Trần Đức Hạ, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường đã chia sẻ đầy nhiệt huyết về việc hồi sinh kênh Bắc Hưng Hải. Trong câu chuyện của ông vẫn thấp thoáng một niềm tin rằng con kênh có thể trở lại với hình hài vốn có, nếu toàn hệ thống được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất. “Dòng nước cứ chảy từ nơi này sang nơi khác, len qua những cánh đồng, những làng quê, những khu dân cư ngày một đông đúc. Vì thế, muốn hồi sinh, trước hết phải có một cơ chế đủ mạnh để các địa phương cùng chia sẻ trách nhiệm”, ông Hạ gợi mở.
Còn theo PGS, TS Đào Trọng Tứ, Trưởng ban điều hành Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, cần đánh giá lại nhu cầu sử dụng nước tại hệ thống sông để có phương án cải tạo hữu hiệu. Bởi trong quá trình phát triển, xây dựng khu công nghiệp, khu dân cư, nhu cầu cấp và thoát nước của cả hệ thống đã thay đổi. “Chúng ta có hệ thống di sản sông, kênh rạch nhưng đã không bảo vệ tốt. Để cải thiện ô nhiễm, cần chặn ngay nguồn xả thải bằng quyết tâm cao nhất của các địa phương”, ông Tứ nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, PGS, TS Phùng Chí Sỹ, Giám đốc Trung tâm Công nghệ môi trường (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam), chia sẻ thêm: “Ngoài các biện pháp kiểm soát nguồn xả thải, chúng ta cũng cần tận dụng khả năng tự làm sạch của kênh bằng cách điều tiết dòng chảy”. Cũng theo ông Phùng Chí Sỹ, việc làm sạch sông là bài toán khó, nhưng vẫn phải thực hiện. Ông lấy thí dụ dự án cứu kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, được các cơ quan chức năng Thành phố Hồ Chí Minh làm khá chặt chẽ, bài bản và khoa học. Bây giờ tuyến kênh này đã sống, có dòng chảy, tôm cá sinh sống được và người dân tận hưởng được những giá trị mà sông đem lại.
Trước một công trình giàu ý nghĩa lịch sử, từng bảo đảm nguồn nước tưới ổn định cho hàng chục nghìn ha lúa, hoa màu, đồng thời nâng cao năng lực tiêu úng cho nhiều tỉnh, thành phố trong lưu vực thì Bắc Hưng Hải không chỉ là câu chuyện làm sạch một dòng kênh. Đó còn là câu chuyện giữ lại một mạch nước đã gắn với cuộc sống của cả một vùng đồng bằng qua nhiều thế hệ ■
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương sẽ phối hợp hồi sinh công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, ưu tiên cải thiện ô nhiễm trong giai đoạn 2027-2028. Theo đề án, cơ quan chức năng sẽ hiện đại hóa hạ tầng thủy lợi, bảo đảm khai thác đa mục tiêu, chủ động cấp nước đủ tiêu chuẩn phục vụ sản xuất, dân sinh và phát triển kinh tế trong vùng theo hướng hiện đại, sinh thái và bền vững.