1. Tôi đang ở thành phố phía đông vào một ngày nắng đổ. Những tưởng cái nắng đầu mùa khô giữa tháng tư này thêm chao chát nắng. Buổi sáng. Từ căn phòng bước ra hành lang thể dục như một thói quen trong sớm tinh sương, đã thấy mặt trời thức giấc từ lúc nào. Đưa mắt nhìn bao quanh một lượt bầu trời, đã thấy phía đằng đông đỏ rực lên như một hòn than. Những tia nắng ban mai của ngày mới, nắng chiếu thẳng lên nền trời xanh thẫm, lấm chấm mấy gợn mây trắng trong ảo mờ hình rẻ quạt khổng lồ những đường gân. Lúc còn mờ sương giăng, hình rẻ quạt khổng lồ ấy là những đường gân sẫm đỏ. Chỉ loáng sau, đường gân ấy phơi màu đỏ tươi, rồi rực rỡ, rồi loang ra, tan ra như sương đầu ngõ, thành những hạt nắng rơi xuống thành phố xanh cây trái bốn mùa.
Nơi đây, dù mùa nắng nhưng chỉ nóng cực điểm vào tầm ban trưa quá vãn sang chiều. Nắng mà vẫn gió. Buổi chiều, nắng nhạt dần, gió lên lá hát. Lá bạt ngàn xứ sở. Lá lao xao trên triền đồi. Lá xào xạc dưới thung sâu. Lá nhảy múa loang loáng hai bên đường đi. Lá như những đôi mắt biếc nhìn tình nhân yêu nhau trong công viên đắm đuối. Và, lá ở những khu vườn quanh mỗi mái nhà rợp xanh diệp lục, cho mỗi mái nhà dù thấp thoáng cổ kính hay tầng vút cao, dù đơn sơ bình dị hay rực rỡ cao sang, đều có cây có lá bao quanh xanh mướt mát. Bản giao hưởng của lá khi gió lên như những bản tình ca trong chiều lộng gió, khi reo vui hoan ca, khi vỗ về an ủi, cũng có khi dữ dội, rồi gió lại nồng nàn đưa hương hoa lan tỏa muôn nơi.
Xứ sở trù phú đất trời ưu đãi khí hậu ôn nhu cho cả hai mùa mưa nắng. Đất bazan phong hóa thổ nhưỡng một màu đượm nắng, quạnh đỏ, xốp tơi, bện quyện, nồng nàn, đất ấy nuôi cây nuôi người nên chẳng ai xứ này không biết ơn. Chỉ cần bàn tay con người chăm bẵm siêng năng vun xới, hạt giống gieo xuống nảy mầm, cây trồng xuống lớn lên, tỏa bóng, đơm hoa, cho trái đầy cành, mùa nào thức ấy. Cam, bưởi, xoài, chôm chôm, nhãn, mãng cầu, thanh long, chuối, thơm, mít ngọt… Nhưng đặc sắc hơn cả vẫn là sầu riêng. Ai đã đặt tên cho loài cây trái sầu riêng? Phải chăng từ xứ sở Mã Lai (Malaysia) nơi quê hương sầu riêng có truyện cổ tích về mối tình ngang trái giống câu chuyện về sự tích trầu cau? Hay tên khoa học của một loài quả có gai mít nhọn, có múi theo lườn, có mùi thơm đặc trưng, có màu vàng nhạt và vị ngọt, béo, bùi… với tên gọi Dourian, được gọi trại đi thành chữ Dâu-riang, phiên sang tên tiếng Việt là sầu riêng!? Dẫu tên gì thì đó vẫn là một loài cây trái để lại trong lòng người trồng cây nơi đây cả nụ cười lẫn nước mắt, nhất là khi nó đã trở thành hàng hóa, thành thương hiệu; còn người thưởng thức nó lần đầu không mấy dễ dàng, lần sau và sau nữa thành nghiện; vận tên vào những câu chuyện đời thường trong nỗi cô đơn con người hiện đại lại cảm thán bằng hai chữ “sầu riêng!”.
Xưa, người Việt cổ đã sớm tìm đến đất này trú ngụ. Cây cối tự nhiên xanh tốt bốn mùa. Nhiều di chỉ khảo cổ quần thể di tích mộ cổ Hàng Gòn như những thông điệp, những câu chuyện kể, tiếc là chưa ai có thể khám phá tường tận những ẩn giấu, câu hỏi thật sự hóc búa mà không dễ gì trả lời về nguồn cội, phương thức di trú, sinh tồn, về sức mạnh chủ nhân trong những di chỉ trên của người Việt cổ, dù thời gian đã khai quật ngót trăm năm nay.
2.Trải bao thiên biến thăng trầm lịch sử, người tứ xứ cũng về đây khai mở đất đai. Câu thơ “Từ độ mang gươm đi mở cõi” hẳn chỉ để nói khai phóng rừng già cây cối, sình sạp đầm lầy kênh rạch nhiều muông thú của thiên nhiên trong xứ Nông Nại (tên gọi cổ của vùng đất Cù lao Phố vào thế kỷ XVII-XVIII), là cách bóng gió về “vũ khí” phòng thân của con người bé nhỏ trước thiên nhiên hoang hoải thôi, chứ lẽ nào đơn thuần theo cách đi gây chiến với ai? Không hoàn toàn là đánh nhau “mạnh được, yếu thua” để chiếm giữ cho riêng mình mà triệt tiêu kẻ đối địch, dù rằng lịch sử cũng không bỏ qua và chối cãi điều này. Không dễ gì cách nay 328 năm, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn giao phó chiêu mộ lưu dân và an dân, định tên ấp tên xã tên làng, dựng phên giậu trấn biên một vùng rộng lớn. Cũng cách nay mấy trăm năm, không dễ gì danh nhân văn hóa Trịnh Hoài Đức trình tấu bản Gia Định thành thông chí, ghi chép về cương thổ, về lịch sử, địa lý, phong thủy, phong tục, con người nguồn cội xứ sở. Quá trình định cư cũng là định canh, xác lập tên gọi, xác lập chủ quyền như lẽ thường thấy xưa nay trong đạo đất trời. Để đến hôm nay, sau hơn 50 năm miền nam hoàn toàn giải phóng, thành phố Đồng Nai tạo thêm dư địa phát triển, mở mang kết nối kinh tế và văn hóa. Những công trình như sân bay Long Thành, hệ thống kết cấu hạ tầng tạo thành hành lang Đông-Tây, giao thương phát triển rực rỡ trong nay mai.
Thế mà ngày ấy, người Pháp lấy danh khai hóa văn minh, khai thác thuộc địa bằng chính sách thực dân, bóc lột đến tận xương tủy người bản xứ. Họ bắt dân ta đốn rừng, mở đất trồng cao-su, lập đồn điền, tạo dựng khu vực rộng lớn cây trái bốn mùa này thành những dòng nhựa trắng ứa ra từ thân cây trộn lẫn dòng máu đỏ của người da vàng bản xứ; họ biến nơi đây thành chốn thiên đường nghỉ dưỡng cho giới quý tộc, quan cao cấp từ Sài Gòn ra, từ miền trung vào của chế độ thực dân mỗi dịp cuối tuần. Những tàn dư nơi đây còn sót lại là những ngôi biệt thự cổ rêu phong, những nhà thờ đá mốc thếch... Vẫn còn đó máu và nước mắt công nhân đồn điền, những roi kiếm và dụng cụ tra tấn với những nấm mồ phu; vẫn còn đó những vết đạn cày xước, những họng khẩu đại bác gỉ sét cùng tuế nguyệt. Có người cho rằng tại sao không xếp hạng, trùng tu, khai thác du lịch những công trình kiến trúc này? Nếu điều kiện có thể, cũng không thể lãng phí vì đó là mồ hôi, công sức, là máu của người Việt. Nhưng trùng tu, khai thác thì cũng không thể trùng tu, tôn tạo những ký ức ám ảnh ấy của một thời đầy ám ảnh đau thương.
Thực dân đi rồi thì đế quốc Mỹ xâm lăng. Hơn 20 năm có lẻ, vùng đất cây trái bốn mùa thêm lần nữa bị giày xéo chà đạp. Sau hơn
20 năm kiên quyết đấu tranh, bằng ý chí kiên cường bất khuất “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, bằng những phương thức sắc bén thông minh, bằng sức mạnh đại đoàn kết vô song, bằng gan dạ dũng cảm và tài thao lược xoay chuyển tình thế chớp thời cơ đúng lúc, đòn đánh quyết định cuối cùng của các cánh quân mặt trận hướng đông từ 5 giờ 45 phút sáng 9/4 đến hết ngày 21/4, mở toang “cánh cửa thép”, xốc tới sào huyệt cuối cùng, buộc kẻ địch đầu hàng vô điều kiện, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất non sông, đất nước ta nối liền một dải.
3. Năm mươi mốt năm trôi qua, dù đất này chưa lành vết sẹo, nhiều thân cây còn đó những mảnh đạn bom găm, nhiều đạn bom chưa kịp nổ nằm đâu đó trong lòng đất đá núi, hàng trăm ngôi mộ quân giải phóng chưa biết tuổi biết tên, nhưng người dân nơi đây chung lòng “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, đôi mắt hòa bình tha thứ cho những lỗi lầm, chữa lành vết sẹo, hàn gắn đau thương trong đôi bàn tay nhân ái. Một dân tộc yêu chuộng hòa bình dựng lên tượng đài không chỉ để ghi nhớ chiến thắng mà còn nhắc nhủ đời sau những người từng một thời bên kia chiến tuyến chớ phạm phải sai lầm. Đài tưởng niệm và đền thờ liệt sĩ dựng lên để vong linh những người đã khuất tìm về. Những hàng bia mộ nghi ngút khói hương trong ngày giỗ trận, tiếng chuông hòa bình đồng vọng thức tỉnh lương tri.
Trái tim khối óc và đôi tay gầy dựng lại, bồi vun cho mảnh đất cây trái bốn mùa thêm xanh tươi tốt ■
Đi trong chiều nhạt nắng trên đường phố phía đông bốn mùa cây trái, lòng bùi ngùi thương nhớ người xa khuất trên mảnh đất ngàn xưa, nhất là những người xả thân hy sinh đời mình cho non sông thống nhất, cho hòa bình mãi mãi, cho đất này nở hoa kết trái ngọt ngào. Vài tia nắng sót lại quyện trong gió chiều giữa bạt ngàn xanh lá, tiếng lá xạc xào cất lên giai điệu tình ca mùa xuân yêu thương, mùa xuân xứ sở.