TỪ SA CẦN ÐẾN SA HUỲNH:

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)
Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Và tôi đã chọn khúc ban- công được coi là đẹp nhất, ấy là Quảng Ngãi, tỉnh (cũ) có đường bờ biển khúc khuỷu, lắm vũng, vịnh và nhiều cửa biển nhất Việt Nam. Chuyến “chinh phục” sáu cửa biển ở vùng đất chứa nhiều dấu ấn lịch sử, nơi đậm đặc và cũng là nơi giao thoa các nền văn hóa, nơi cảnh sắc vừa nên thơ vừa hùng vĩ đang phát triển từng ngày nhưng lại còn giữ trong mình những trầm tích rực rỡ của thời gian khiến tôi không khỏi choáng ngợp.

Rong ruổi theo con đường dọc bờ biển bắt đầu từ Núi Thành (Quảng Nam cũ) và qua hết đất Sa Huỳnh (Quảng Ngãi cũ) mới nhận ra, nơi đây dù dòng chảy dốc và ngắn nhưng dày đặc sông ngòi đan nhau, bởi có những cửa biển chỉ cách nhau tầm 4-5 cây số. Có cửa của một dòng sông nhưng cũng có cửa do 2-3 sông góp lại đổ về. Và không phải cửa biển nào cũng là cửa của sông mà còn có cả cửa của đầm. Rồi nhiều cửa là nước nửa mặn nửa ngọt, thì lại có cửa chỉ nước mặn mà thôi…

Sông xứ này cũng đến lạ: Có sông tự nhiên và có cả sông đào; có dòng hối hả từ núi một mạch chạy thẳng ra với biển, nhưng cũng có dòng dùng dằng chảy ngang, sông này sang sông kia, từ cửa biển này sang cửa biển khác, coi bộ rất nhẩn nha.

Tên sông, tên cửa hình như cũng có chút “họ hàng”, nên trong sáu cửa thì ba cửa có “Sa”: Sa Cần, Sa Kỳ, Sa Huỳnh. Và trong 4 sông lớn nhất thì hết ba dòng cùng “Trà”: Trà Khúc, Trà Bồng, Trà Câu…

Đi từ Sa Cần, Sa Kỳ, Đại Cổ Lũy rồi Lở, rồi Mỹ Á đến Sa Huỳnh, mỗi cửa mang một vẻ riêng, không đâu giống đâu. Nhưng cửa nào cũng cho ta cảm giác được “luồn sâu” vào quá khứ, càng đi càng thăm thẳm về một nền văn minh gắn liền với biển từ mấy nghìn năm.

Từ mấy nghìn năm trước, người xứ này đã giong thuyền đi khắp nơi, lên bắc, xuống nam, sang tận các vùng nam đảo. Trải bao biến cố thăng trầm từ cổ đại đến trung đại, mà đỉnh cao là cuộc va chạm và hòa hợp giữa hai nền văn minh “Lúa-Biển” khi người Việt đi xuống phía nam cho đến thời hiện đại, thì ngư dân miền trung dù ở đời nào hay thuộc tộc người nào cũng vẫn là những ngư phủ thiện nghệ và vươn khơi xa nhất… Bởi thế, khi các nhà khảo cổ tìm thấy ở xứ Quảng những di vật có xuất xứ thời Hán, thời Đường bên Trung Hoa hay từ Nhật, từ Ấn và Nam đảo, thì họ hiểu rằng nó được người xứ ta “mang về” chứ không phải do nhà buôn xứ người “mang đến”…

Sa Cần, cửa biển đầu tiên của Quảng Ngãi, nổi tiếng không chỉ bởi cảnh sắc non nước, mà cùng với Vũng Quýt gần đó tạo vị thế điểm nhấn cho khu kinh tế Dung Quất, nơi có cơ sở lọc hóa dầu hiện đại đầu tiên của Việt Nam. Đến Sa Cần, thấy mình lạc vào một “tổ hợp” những điểm đến: dòng sông, cửa biển, làng quê và những nhà máy, những silo sừng sững, khổng lồ, gặp từng đoàn công nhân đi lại tấp nập.

Từ cửa Sa Cần men theo tỉnh lộ 621 tầm hai chục cây số là đến cửa Sa Kỳ. Mùa này cửa biển đang độ tấp nập nhất bởi thuyền cá ngư dân và thuyền khách ra Lý Sơn. Nếu tính từ các cửa biển miền trung ra Lý Sơn hay Hoàng Sa thì Sa Kỳ là nơi gần nhất. Có lẽ vậy mà từ thời Chúa Nguyễn, trai tráng ở Ba Làng An đã mang sứ mệnh của những “ngư phủ-hùng binh” để bảo vệ chủ quyền người Việt ngoài khơi xa hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Và những lần xuất quân của đội hùng binh ấy đều từ cửa biển Sa Kỳ này. Về sau, người Ba Làng An đưa con em mình và mang theo cả tên đất, tên làng ra cù lao Ré (đảo Lý Sơn) để thuận lợi hơn trong quản lý, khai thác vùng biển đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Bởi vậy mà Sa Kỳ và Lý Sơn thật sự là cốt nhục của nhau. Không chỉ địa hình, địa mạo mà cả tên làng An Hải, An Vĩnh ngoài đảo hay trong bờ đều chung nhau.

Cách cửa biển Sa Kỳ non chục cây số về phía nam là cửa biển lớn nhất Quảng Ngãi: Đại Cổ Lũy, lối ra biển của con sông thuộc hàng “đại xuyên” ở miền trung: Trà Khúc. Trong lịch sử, người Việt thuở mới vào gọi đây là Chiêm lũy lịch môn, nơi người Chiêm Thành tổ chức hệ thống phòng thủ với những thành, lũy như Cổ Lũy, Châu Sa. Về sau các thế hệ người Việt tiếp tục hoàn thiện để trấn giữ nơi quan yếu. Thuở nam chinh mở cõi, các đại thuyền binh từ triều Trần, Hồ, Lê, Nguyễn đều qua cửa này và để lại những sử tích hào hùng cho hậu thế.

Cửa Đại Cổ Lũy thông với cửa biển khác qua những chi lưu của Trà Khúc và sông Vệ, bắc thì có Kinh Giang, nam thì có Vực Hồng, Phú Thọ. Men theo Vực Hồng chừng 5 cây số về nam, ta sẽ gặp cửa Lở.

Tôi đã ngạc nhiên khi đọc cuốn “Non nước xứ Quảng” của Phạm Trung Việt do Khai Trí Sài Gòn ấn hành năm 1969, phần về cửa biển không thấy có tên cửa Lở. Có phải ngày xưa vì quá gần Đại Cổ Lũy mà vai trò cửa biển này bị lu mờ? Nhưng trong một đề tài nghiên cứu về bờ biển Quảng Ngãi lại thấy có dẫn tài liệu cổ, cho biết sau khi cửa chính của sông Vệ bị bồi lấp và biến mất vào giữa thế kỷ 17 thì mãi đến năm Khải Định thứ 7 (tức 1922) thì cửa Lở mới hình thành. Như vậy, cửa Lở là “đứa em” trẻ nhất trong sáu anh em nhà cửa biển Quảng Ngãi.

Khách xa về cửa Lở sẽ đi qua một nơi mà xưa kia là một thương cảng tấp nập được ví như một Hội An (Quảng Nam) hay Thanh Hà (Huế), đó là phố hội Thu Xà. Thu Xà vừa gần cửa Lở với các chi lưu của sông Vệ, lại gần Đại Cổ Lũy có dòng lớn Trà Khúc, trở thành đầu mối các dòng sông xứ Quảng nên bên ngoài thì tàu buôn từ Trung Hoa, Nhật Bản thường xuyên lui tới, bên trong thì ghe thuyền từ thượng du, trung châu tấp nập đổ về. Sản vật địa phương từ đó mà đi ra, còn hàng từ Tây, Tàu đến đây mà tỏa về các ngả.

Thuở vàng son ấy cách nay đã hơn ba trăm năm, khi Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi, thu nạp lưu dân, trong đó có Tứ bang Hoa Kiều từ Triều Châu, Hải Nam, Quảng Đông và Phúc Kiến. Rồi đường bộ, đường sắt phát triển, rồi sông thay dòng, cửa bồi lấp. Thời vang bóng ấy rồi cũng ngậm ngùi đi qua…

Nay về cửa Lở ngang qua Thu Xà, nhớ niềm nuối nhớ của thi sĩ nhà thơ Bích Khê:

“Nơi đây làng cũ buồn thu quạnh

Anh có khi nào trở lại chưa

Ngày đi chậm lắm, dòng sông biếc

Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa”

Nay về cửa Lở ngày vẫn chậm, sông vẫn biếc, chỉ Thu Xà đã khác xưa. Bóng dáng phố hội cổ được thay bằng nếp làng mới bình yên dưới những rặng dừa xanh ngát. Về cửa Lở, lưu lại một đêm ở Cocoland để ra bãi Dừa thưởng thức món don xúc bánh tráng. Sáng dậy sớm ra cửa biển kịp ngắm mặt trời vừa len qua tán dừa rồi rắc nắng lên những vạt sú non mới trồng đang kỳ bén rễ, cảm giác lâng lâng…

Ngược cảnh với cửa Lở, cửa Mỹ Á nằm kế đó, vốn là cửa biển hẹp nhất của Quảng Ngãi. Không chỉ bị kẹp một bên là núi, một bên khối đá sừng sững, mà đáy cửa còn bày cả trận đồ đá ngầm, chẳng khác gì một ải môn hung hiểm. Bởi thế vượt Mỹ Á còn khó gấp mấy so với việc tìm cá ngoài khơi. Nhưng may hơn cửa Lở là từ năm ngoái Mỹ Á đã được khơi thông luồng, thế nên cảng cá đã hồi sinh và bến thuyền ngày càng tấp nập. Mà ấn tượng đầu tiên đập vào mắt tôi khi vừa chạm tới cửa biển hẹp này là những chiếc thuyền neo bên cảng cá nhỏ và những ngư dân trai tráng đang dùng dây ròng rọc đưa cá ngừ đại dương từ hầm tàu lên bờ. Lần đầu tiên, không phải ở Phú Yên hay Bình Định, tôi đã tận mắt chứng kiến những con cá ngừ đại dương to hơn cả thân người…

Mới hay ngư dân vùng Mỹ Á nói “không” với cá nhỏ từ rất lâu rồi. Tập quán đó không phải tạo ra từ khuyến cáo của nhà chức trách về nguy cơ tận diệt, mà chính từ trong tâm thức cộng sinh với biển của mỗi ngư dân.

Rời Mỹ Á, chạy theo đường Dung Quất-Sa Huỳnh mới mở, bị mê hoặc bởi một vùng đất ven biển bát ngát thẳm xanh, thấp thoáng những cánh đồng lúa chiêm đang vào mùa vàng rực. Nhìn trên bản đồ đường đi, thấy một vùng nước mênh mông sát cạnh bãi biển, tưởng cửa biển đâu đây rồi, nhưng khi đến nơi, hóa ra đấy là đầm An Khê. Dừng hỏi người dân địa phương, mới nhận ra, cửa Sa Huỳnh là nơi ra biển của một con đầm khác, san sát tàu thuyền có tên là Nước Mặn. Đầm này vừa là nơi neo đậu tàu thuyền, vừa là nguồn nguyên liệu cho những đồng muối và cũng là nơi lưu giữ những sử tích về cuộc chinh nam của người Việt xa xưa.

Sa Huỳnh là nơi mở ra cánh cửa “xuyên không” về mấy nghìn năm trước cho ta hiểu hơn câu chuyện của tổ tiên và chủ nhân thời tiền sử qua nền văn hóa Sa Huỳnh mà kỳ tích ngành khảo cổ đưa lại. Rồi trong lan man dọc bờ cát Sa Huỳnh tôi mới biết thuở còn thuộc Lâm Ấp, Chăm Pa thì những Cửa Tùng, Cửa Việt, Cửa Đại, Cửa Lũy… đã là những bến cảng sầm uất mà thương nhân Hán-Đường hay lui tới trao đổi sản vật. Kể cả câu chuyện vì sao lúa Chiêm ở miền bắc là một sáng tạo tuyệt vời của người Chiêm Thành, nhưng khi qua ta phải đi đường vòng sang nước Tống bên Trung Hoa. Ở đây, tôi cũng đã gặp những làng cổ đậm dấu tích Chăm Pa với những ngôi miếu thờ, con đường lát đá, giếng cổ Chăm còn nguyên mạch nước trong mát…

Chỉ “trích đoạn” một cuộc la cà dọc theo chân sóng về thăm mấy cửa biển mà được chiêm ngưỡng bao dấu tích của nghìn xưa còn lại trong cốt cách con người, trong tên sông tên làng tên núi, tên của thành lũy tháp đền, và cả chuyện nhân tình thế thái… Ta nhận ra, mỗi cửa biển thật sự là một tấm bi ký của thời gian, dù qua thiên niên vạn kỷ vẫn lấp lánh cội nguồn ■