Hiểm họa từ “cái chết từ từ”

Có một câu hỏi, vì sao sau nhiều năm siết quản lý, thực phẩm không bảo đảm an toàn vẫn len lỏi từ ruộng đồng tới chợ, rồi xuất hiện trên mâm cơm người dân mỗi ngày?

Hiện sản xuất của nông hộ thường nhỏ lẻ, phân tán và mang nặng tính kinh nghiệm. Ảnh: PHÚ TÂY
Hiện sản xuất của nông hộ thường nhỏ lẻ, phân tán và mang nặng tính kinh nghiệm. Ảnh: PHÚ TÂY

“Vùng xám” từ những lời nói thật

Để tìm câu trả lời, chúng tôi đi qua bạt ngàn đồi chè ở xã Suối Hai dưới chân núi Ba Vì (Hà Nội) gặp ông Đào Minh D. và nhiều nông dân đã gắn bó với cây chè từ thời theo gia đình lên vùng đất này khai hoang những năm 1960. Giữa màu xanh mướt mắt của những luống chè trải dài theo sườn đồi, họ kể với chúng tôi về cách làm chè tồn tại suốt hàng chục năm nay: thấy sâu thì tự ra đại lý mua thuốc, tự pha, tự phun; muốn hái lúc nào thì hái, rồi đem ra chợ bán. “Cả đời làm chè, chúng tôi chưa từng thấy ai xuống tận nơi kiểm tra quy trình này có an toàn hay không, việc bán trà ra chợ cũng thế, mạnh ai nấy bán, mạnh ai nấy mua”, ông D. nói.

Một buổi sáng tháng 5/2026, chúng tôi vào các vùng trồng rau ở xã Hồng Vân, cách trung tâm Hà Nội không xa, trong vai những người đi tập thể dục ghé hỏi mua rau xanh “tươi ngon” tại ruộng. Giữa những luống mướp, rau cải xanh mướt, ông Hải, 64 tuổi, vừa tỉa lá vừa chỉ tay về đống rau chất ven bờ ruộng chờ thương lái đến chở “lên Hà Nội”, bán khắp các chợ đầu mối, các cửa hàng.

Nghe chúng tôi hỏi rau có phun thuốc không, người đàn ông cười thật thà: “Phun nhiều chứ. Sáng 9 giờ phun (thuốc trừ sâu), 3 giờ chiều có người đã nhổ rau đem bán. Cách làm đó, không phải là độc hại nữa, mà là quá độc hại”. Rồi ông bất ngờ nói nhỏ, như một lời thừa nhận: “Tôi đi ăn ngoài hàng quán gần như là không ăn rau. Vì mình đoán biết họ trồng bằng “công nghệ” nào. Tôi là người trồng rau, tôi thấy, quanh đây họ phun tưới độc hại ra sao. Ăn vào, tích tụ độc tố rồi mắc bệnh hiểm nghèo. Có khi, thèm “rau” lắm, tôi chỉ dám ăn vài thứ quả, củ mà khi chế biến có thể gọt vỏ”.

Một đại diện Ủy ban nhân dân xã Hồng Vân, thừa nhận tình trạng thực phẩm không rõ nguồn gốc, mất an toàn diễn ra không chỉ với rau, nông sản mà cả thịt lợn, hàng nhập lậu trà trộn ở chợ đầu mối. Về những bất cập trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục, phun tưới không bảo đảm thời gian cách ly, ông này kể, có trưởng thôn từng đề xuất một phương pháp “độc đáo” để chống lại tình trạng trên, trong cuộc họp dân, rằng: hộ nào sử dụng thuốc trừ sâu sai quy định thì người dân phát hiện sẽ đưa lên loa truyền thông của xã để răn đe. Vì xấu hổ, vì sợ bị “tố” dẫn tới hàng sản xuất ra không ai mua, nên bà con “làm sai” sẽ sợ mà phải tuân thủ.

Đó là một đề xuất rất đáng suy ngẫm và đặt ra bài toán về lực lượng giám sát, tuyên truyền về sản xuất thực phẩm an toàn sao cho hiệu quả hơn nữa. Thực tế, từ hơn 10 năm trước, theo Chỉ thị số 08/CT-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội: đối với các trường hợp kiểm tra phát hiện các cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì cần kịp thời thông báo tên các cơ sở vi phạm trên đài phát thanh xã, phường để người tiêu dùng biết không sử dụng.

Còn ông Nguyễn Văn Chinh, Quản lý sản xuất Công ty TNHH Nông nghiệp tuần hoàn Kim Sơn (xã Đông Anh) cho rằng: Nguyên nhân sâu xa nằm ở bài toán chi phí và đầu ra. Làm rau sạch, chè sạch tốn công và tốn tiền hơn rất nhiều; chỉ riêng việc thuê nhân công nhổ cỏ đã đắt hơn nhiều so với phun thuốc diệt cỏ. Nhưng khi đưa ra chợ đầu mối, nông sản làm an toàn nhiều khi lại không xanh mướt, đẹp mã bằng hàng phun thuốc nên bị ép giá. “Nếu làm sạch mà bán không ai mua, hoặc giá thấp hơn hàng thường, bà con rất khó theo đuổi”, ông Chinh nói.

Nhiều đơn vị quản lý, thiếu đầu mối chịu trách nhiệm

Sau chuyến đi giám sát thực tế về an toàn thực phẩm tại nhiều địa phương hồi tháng 4/2026, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội) chia sẻ: “Phải khẳng định pháp luật hiện nay không phải là không có quy định đầy đủ về vấn đề an toàn thực phẩm. Trong khi hệ thống quản lý hiện nay tương đối phát huy hiệu quả ở khu vực sản xuất có tổ chức, có tiêu chuẩn, truy xuất và chịu áp lực cao từ thị trường xuất khẩu; nhưng lại chưa đủ mạnh ở khu vực gốc của chuỗi cung ứng, tức là sản xuất nông hộ nhỏ lẻ, phân tán, còn nặng tính kinh nghiệm, nơi sản phẩm đi trực tiếp ra chợ dân sinh và đi thẳng vào bữa ăn hằng ngày của người dân”.

Cũng theo ông Sơn, trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), chúng ta phải có tầm nhìn rộng hơn, không chỉ hoàn thiện quy định trên giấy, mà phải thiết kế được một cơ chế kiểm soát thật sự đi được đến tận khu vực sản xuất nhỏ lẻ. Vấn đề lúc này không phải là thiếu lực lượng quản lý an toàn thực phẩm, mà là quản lý đang bị chia cắt theo từng khâu. Ngành nông nghiệp quản lý vật tư, thuốc bảo vệ thực vật và sản xuất ban đầu; ngành công thương quản lý lưu thông, chợ và phân phối; ngành y tế quản lý bếp ăn, trường học, bệnh viện. Mỗi khâu đều có người quản, nhưng cả chuỗi lại thiếu một đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng.

Trò chuyện với chúng tôi, ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: “Công tác kiểm soát an toàn thực phẩm hiện nay vẫn gặp nhiều thách thức, đặc biệt ở khu vực sản xuất nhỏ lẻ. Việt Nam hiện có khoảng 10 triệu hộ nông dân, trong đó tỷ lệ hộ sản xuất quy mô nhỏ còn rất lớn”.

Theo ông Dương, nhiều năm qua ngành nông nghiệp đã triển khai các chương trình tập huấn cho địa phương về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, quản lý sinh vật gây hại và sản xuất. Tuy nhiên, việc tập huấn chưa thể bao phủ hết các hộ sản xuất nhỏ lẻ; nhiều nông dân hoặc chưa được tiếp cận, hoặc vẫn làm theo kinh nghiệm dù đã được hướng dẫn.

Thực tế hiện nay, công tác quản lý an toàn thực phẩm tại các chợ dân sinh, chợ truyền thống còn nhiều bất cập, việc truy xuất nguồn gốc gần như chưa được thực hiện, người bán và người mua nhiều khi đều thiếu thông tin về chất lượng sản phẩm.

Áp dụng công nghệ, truy xuất nguồn gốc nông sản

PGS, TS Nguyễn Duy Thịnh - chuyên gia công nghệ thực phẩm, nguyên giảng viên Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm - khi trò chuyện với chúng tôi, đã nhấn mạnh: Quy định về an toàn thực phẩm hiện nay không thiếu, nhưng vấn đề nằm ở khâu thực thi và khả năng kiểm soát tới tận nơi sản xuất nhỏ lẻ. Theo ông Thịnh, cần đẩy mạnh số hóa quản lý, áp dụng mã QR để người tiêu dùng có thể truy xuất nguồn gốc nông sản từ vùng trồng tới chợ dân sinh - nơi cuối cùng thực phẩm xuất hiện trước bữa ăn mỗi gia đình.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Sơn trong bài trả lời phỏng vấn gần đây, đã nói những lời day dứt và trăn trở: “Chỉ khi nào người làm đúng (sản xuất thực phẩm an toàn) được bảo vệ, người làm sai bị phát hiện nhanh, xử lý nghiêm và bị loại khỏi thị trường, chúng ta mới vừa bảo vệ được người tiêu dùng, vừa bảo vệ được thu nhập bền vững của người sản xuất chân chính. Chúng ta phải quản lý thực phẩm với cách tiếp cận mới, các quy định trong Luật không chỉ chặt chẽ hơn, mà còn phải có một tầm nhìn mới hơn trong quản lý an toàn thực phẩm: Không đi sau vi phạm, mà đi trước nguy cơ; không quản bằng “niềm tin”, mà quản bằng dữ liệu, truy xuất và trách nhiệm đến cùng”.

12-2.jpg
Thiếu cơ chế kiểm soát việc lạm dụng thuốc trừ sâu gây nên tác hại lâu dài và nguy hiểm cho sức khoẻ cộng đồng.Ảnh: PHÚ TÂY

Sau những chuyến thực tế, điều chúng tôi thấy hiện ra rõ nhất có lẽ chính là nỗi lo quá lớn sự đứt gãy trong quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm giữa các khâu sản xuất, lưu thông và tiêu dùng. Theo nhiều chuyên gia, để giải quyết tận gốc vấn đề an toàn thực phẩm, sản xuất nông nghiệp cần chuyển dần từ manh mún sang liên kết theo hợp tác xã và chuỗi cung ứng có kiểm soát. Bộ Y tế cũng đã nhìn nhận rõ vấn đề này. Tin vui là, cuối tháng 4/2026, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên đã chủ trì cuộc họp xây dựng đề án kiện toàn bộ máy quản lý an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương tới địa phương. Theo đó, sẽ “chỉ có một cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của ngành y tế tại cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, tiếp nhận các chức năng, nhiệm vụ, nhân sự, cơ sở vật chất (nếu có) liên quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của ngành Nông nghiệp và Môi trường cũng như ngành Công thương”. Định hướng được đặt ra là chuyển từ cách quản lý theo từng khâu riêng lẻ sang kiểm soát toàn bộ chuỗi thực phẩm, từ sản xuất, chế biến, lưu thông cho tới khi thực phẩm xuất hiện trên mâm cơm của người dân.

Tăng cường chuyển đổi số trong quản lý an toàn thực phẩm thông qua ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, từ đó sẽ hiệu quả hơn trong phòng ngừa, xử lý các bất cập, đồng thời dễ dàng truy xuất nguồn gốc, hậu kiểm thực phẩm lưu thông trên thị trường.

Hiện nay, Việt Nam cho phép lưu hành hơn 4.000 loại thuốc bảo vệ thực vật, con số cao hơn nhiều so với nhiều quốc gia trong khu vực. Cả nước có trên 300 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, với gần 100 nhà máy sản xuất và khoảng 30.000 đại lý phân phối. Mỗi năm, Việt Nam sử dụng khoảng 100.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật. Tính bình quân, mỗi người dân phải “gánh” khoảng 1,1 kg hóa chất này mỗi năm thông qua thực phẩm và môi trường.