Thành lũy Kum-ban-gác dài liền mạch 36 mét, bề mặt rộng từ 5 đến 8 mét - trên hành tinh chúng ta, đây là thành lũy do con người xây đắp dài thứ nhì, sau Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc. Giới sử gia khẳng định: sách cổ cho biết, mặt thành này đủ rộng cho tám con ngựa phi hàng ngang.
Thành lũy Kum-ban-gác được khởi công từ năm 1443, vào thời Ra-na Kum-ba, nhưng phải mất cả một thế kỷ mới thi công xong. Bao bọc cả một vùng đất trù phú, thành lũy có bảy cổng vào ra và những tháp canh, những pháo đài kiên cố trấn giữ các cao điểm, ở cách vài ki-lô-mét cũng nhìn thấy rõ. Đứng trên mặt thành, có thể dễ dàng bao quát cả một khoảng không gian dài rộng hàng chục cây số, bao gồm toàn bộ khu vực nội thành, vùng A-ra-van-li láng giềng, thậm chí, cả sa mạc Tha-rơ gần đó.
Theo truyền thuyết, thành xây lên, mấy lần tự dưng sập đổ, khiến Ra-na Kum-ba phải thỉnh pháp sư, vị này phán rằng sẽ chẳng bao giờ xây xong nếu như không chịu hiến tế thần linh một nhân mạng. Có người hành hương đã tình nguyện làm vật hiến sinh, và tại chỗ nghĩa sĩ vô danh lìa đời hiện là một ngôi đền thờ, ở gần cổng chính vào thành. Lại có một truyền thuyết kể khác: vị quốc vương đã đích thân xung trận và hy sinh trong một trận huyết chiến với giặc ngoại xâm diễn ra ở cổng chính, và ngôi đền bây giờ đặt tại chỗ đầu ngài rơi xuống...
Ngoài mục tiêu quân sự, bên trong thành lũy Kum-ban-gác còn nhiều công trình văn hóa, tín ngưỡng và dân sinh, có tới 360 đền đài cung điện tráng lệ xây cất trên đỉnh cao, thờ phụng các vị thần Hin-du và đức Thích-ca Mâu-ni. Tương truyền, thời Ma-ha-ra-na Kum-ba, ở đây từng thắp những ngọn đèn lớn, đốt hết nửa tạ bơ, mỡ trâu và hàng trăm cân bông để đủ ánh sáng cho người dân làm việc thâu đêm. Cư dân trong khu vực này sinh sống tập trung gần cổng chính của thành lũy và khu vực đền Gô-le-ra, hiện chỉ còn khoảng 300 người, chủ yếu là nông dân. Đến thế kỷ 19, thành lũy Kum-ban-gác lại được gia cố thêm, rồi trở thành một tổ hợp bảo tàng, năm 2013 được UNESCO công nhận Di sản của nhân loại và bắt đầu thu hút khách du lịch.
Được biết, Kum-ban-gác cũng là nơi sinh trưởng của Ma-ha-ra-na Pra-táp (1540-1597) - vị chiến binh vĩ đại, bậc minh quân của vương quốc Mê-va, người đã lập những chiến công hiển hách, chặn đứng sự bành trướng của A-cơ-ba Đại đế (người gốc Mông Cổ, là vị vua thứ ba của đế quốc Mô-gôn).
Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, các pháo đài là sở chỉ huy các cuộc tấn công, thành lũy Kum-ban-gác chưa lần nào bị suy suyển, thung lũng dường như bất khả xâm phạm. Song, làm sao chặn được ngoại xâm nếu không lo thanh trừ nội phản, và trong suốt lịch sử của mình, thành lũy Kum-ban-gác đã chịu thất thủ một lần: kẻ phản trắc đã lén đầu độc nguồn nước bên trong thành, để vua Mu-gan A-cơ-ba và các lực lượng từ Đê-li, A-mê, Gu-gia-rát và Mác-va dễ dàng thâm nhập, chọc thủng tuyến phòng vệ trăm năm xây cất của vương triều Mê-va...