- Chất lượng nguồn nhân lực đang được xem là yếu tố quyết định đối với chiến lược phục hồi hậu đại dịch của Chính phủ. Từ góc nhìn của mình, ông đánh giá như thế nào về chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay?
- Vốn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng mềm, tính cách, được thể hiện ở khả năng thực hiện lao động để sản xuất giá trị kinh tế. Vì vậy, đo lường và đánh giá chất lượng vốn nhân lực rất phức tạp. Theo báo cáo của các tổ chức quốc tế như Diễn đàn Kinh tế thế giới và Ngân hàng Thế giới (WB) thì Việt Nam có vốn nhân lực tương đối cao so các quốc gia ở cùng mức độ phát triển kinh tế. Chẳng hạn theo chỉ số vốn nhân lực của WB công bố năm ngoái thì Việt Nam xếp thứ 38 trong tổng số 174 quốc gia tham gia xếp hạng. Hiện nay, vốn nhân lực của Việt Nam có một số ưu điểm. Thứ nhất Việt Nam vẫn đang ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng, với lực lượng lao động trẻ lớn hơn nhiều so số người phụ thuộc. Việt Nam có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khá cao so các nước trong khu vực. Việc tham gia vào lực lượng lao động của phụ nữ cũng ở mức cao. Theo báo cáo gần đây của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì hơn 70% số phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động, cao hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình 44% của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Sức khỏe của người dân cũng không ngừng được tăng cường. Các chỉ tiêu về sức khỏe như tuổi thọ, tỷ lệ tử vong ở phụ nữ mang thai và trẻ em sơ sinh, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng của người dân Việt Nam đều ở mức tốt hơn mức trung bình của các quốc gia có cùng mức độ phát triển kinh tế (cụ thể là các nước thu nhập trung bình thấp). Đây cũng là căn cứ để tăng độ tuổi nghỉ hưu, kéo dài thời gian làm việc và tăng năng suất lao động.
Thứ hai là sự phát triển của giáo dục trong những thập niên gần đây. Tỷ lệ nhập học ở các bậc phổ thông đều tăng lên đáng kể. Tỷ lệ học cao đẳng và đại học ở thanh niên trong độ tuổi 18-22, theo số liệu Khảo sát Mức sống dân cư 2020, lên tới 37%. Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới thì chất lượng giáo dục của Việt Nam được đánh giá ở mức trung bình của thế giới, nhưng ở mức cao nếu so các quốc gia cùng mức độ phát triển kinh tế.
Nhìn chung chất lượng và giá cả lao động của Việt Nam vẫn được đánh giá ở mức hiệu quả cao so năng suất lao động. Điều này lý giải tại sao Việt Nam luôn nằm trong nhóm các nước có tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài cao trên thế giới.
- Cùng những ưu điểm như ông vừa nêu, nguồn nhân lực của chúng ta đang tồn tại những hạn chế gì?
- Theo tôi, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn nhiều hạn chế. Mặc dù vốn nhân lực của Việt Nam cao hơn mức trung bình của các nước có cùng mức độ phát triển kinh tế, nhưng vốn nhân lực của Việt Nam chỉ ở mức trung bình khi so thế giới. Nếu như chỉ số vốn nhân lực theo đo lường của WB tập trung chủ yếu ở giáo dục và sức khỏe, thì chỉ số vốn nhân lực của Diễn đàn Kinh tế thế giới lại bao gồm cả khía cạnh cơ hội việc làm và kỹ năng lao động. Theo chỉ số vốn nhân lực của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2017 thì Việt Nam chỉ đứng thứ 64 trên 130 quốc gia tham gia xếp hạng. Báo cáo này chỉ ra rằng vốn nhân lực của Việt Nam hạn chế do chất lượng giáo dục chưa cao, tỷ trọng lao động kỹ năng thấp, và đặc biệt thiếu các chuyên gia có trình độ cao. Xét về mức độ kỹ năng lao động bậc cao thì Việt Nam chỉ đứng thứ 120 trên tổng số 130 quốc gia tham gia xếp hạng. Thực tế Việt Nam là một điểm đến thu hút nhiều chuyên gia quốc tế cũng phần nào cho thấy Việt Nam đang thiếu hụt các chuyên gia và nhà quản lý có trình độ cao.
Nền kinh tế cũng chưa tạo đủ việc làm tốt cho nguồn nhân lực. Theo số liệu Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2020 thì gần một nửa số người lao động của nước ta làm việc cho hộ gia đình hay bản thân. Gần một phần ba số người lao động làm việc trong nông nghiệp, và có tới 70% số người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức (không có bảo hiểm xã hội). Theo một nghiên cứu gần đây do Ban Kinh tế Trung ương và Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ phối hợp thực hiện mà tôi có tham gia, tỷ lệ lao động tham gia thị trường lao động (tức là làm công ăn lương) ở Việt Nam rất thấp so các quốc gia có cùng trình độ phát triển kinh tế và giáo dục. Điều này hàm ý cơ hội nghề nghiệp kỹ năng cao của Việt Nam hiện nay không có đủ cho những người đủ trình độ.
Một vấn đề khác của nguồn nhân lực ở Việt Nam là sự phát triển không đồng đều về giáo dục và việc làm giữa các nhóm dân cư và vùng miền. Tỷ lệ người tốt nghiệp cao đẳng, đại học ở dân tộc thiểu số, ở miền núi và ở các nhóm thu nhập thấp là thấp hơn rất nhiều so với dân tộc Kinh, vùng đồng bằng và các nhóm thu nhập cao. Chất lượng giáo dục ở bậc cao đẳng, đại học còn nhiều bất cập. Việc gắn kết giữa đào tạo và các hoạt động thực tiễn như hướng nghiệp, tham quan thực tế các doanh nghiệp, nhà máy không được chú trọng. Ngoài ra, trong tương lai vấn đề già hóa dân số và chênh lệch giới tính cũng sẽ là thách thức với sự phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam.
- Như đã nói ở trên, chất lượng nguồn nhân lực đang được coi là yếu tố quyết định trong chiến lược phục hồi nền kinh tế đất nước hậu đại dịch. Vậy theo ông, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam, trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài, chúng ta cần phải làm gì?
- Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì trước hết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục và đào tạo ở các cấp. Tôi thấy khối lượng kiến thức của học sinh bậc tiểu học và trung học cơ sở khá nhiều, trong khi các hoạt động thể chất và rèn luyện kỹ năng sống chưa được quan tâm. Ở bậc giáo dục sau phổ thông thì cũng cần có chính sách để làm sao gắn kết được đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động. Chẳng hạn các trường cao đẳng và đại học có thể công bố số liệu về tỷ lệ sinh viên có việc làm và mức tiền lương bình quân của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Đây sẽ là thông tin quan trọng cho các trường tuyển sinh cũng như sinh viên lựa chọn trường học với ngành nghề phù hợp. Hệ thống dạy nghề cũng cần điều chỉnh phù hợp nhu cầu của thị trường lao động. Quan trọng nhất là để có thể phát triển được chất lượng nguồn nhân lực thì nền kinh tế cũng phải tạo được đủ việc làm có kỹ năng. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện nhằm thúc đẩy mạnh sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân, vì đây chính là khu vực tạo việc làm phi nông nghiệp chủ yếu của nền kinh tế. Nhà nước cần tạo cơ chế và chính sách bảo đảm sự bình đẳng giữa kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác, cũng như giữa các doanh nghiệp với nhau, hạn chế độc quyền và bất bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực về vốn và đất đai. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần có các chính sách để đối phó vấn đề mất cân bằng giới tính và già hóa dân số trong tương lai.
- Xin trân trọng cảm ơn ông.