Tháo gỡ "nút thắt" tín dụng

Thị trường tín dụng năm 2013 đang phản ánh và trực tiếp chi phối sắc màu bức tranh toàn cảnh nền kinh tế cả nước. Tuy nhiên, dư nợ tín dụng thời gian qua tăng trưởng chậm, lợi nhuận giảm mạnh, buộc các ngân hàng phải tăng cường tự tái cấu trúc cả về tổ chức bộ máy, chi phí kinh doanh và các gói cho vay, đa dạng hóa các dịch vụ... nhằm từng bước tháo gỡ "nút thắt" để dòng tín dụng có thể lưu thông hiệu quả đến từng ngành, lĩnh vực và các thành phần kinh tế.

Gần đây, thị trường tín dụng đã bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc. Ảnh: LÊ THANH
Gần đây, thị trường tín dụng đã bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc. Ảnh: LÊ THANH

Những động thái mới

Điểm đáng chú ý nổi bật đối với thị trường tín dụng Việt Nam hiện nay là vốn tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư xã hội và là nguồn cung vốn chính của khu vực doanh nghiệp (theo thống kê năm 2012 của VCCI, chi phí lãi vay chiếm 24% giá vốn hàng bán của doanh nghiệp). Đồng thời, hoạt động tín dụng cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ hoạt động và nguồn thu của hệ thống NHTM. Nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh đang tăng rõ rệt do doanh nghiệp bắt đầu hấp thụ được vốn vì đã có đầu ra và lãi suất giảm sâu. Cấu trúc tín dụng về kỳ hạn, loại tiền, ngành và lĩnh vực năm 2013 đang có xu hướng bền vững hơn so với vài năm về trước.

Xét về cơ cấu, dư nợ tín dụng VND tăng ngược chiều với dư nợ ngoại tệ giảm. Tín dụng bất động sản gần đây đã tăng trở lại, tín dụng tiêu dùng tăng nhanh cả về quy mô, lẫn nợ xấu, khiến ngân hàng e ngại không muốn tiếp tục mạo hiểm. Trong khi đó, đấu thầu trái phiếu Chính phủ "đắt" hàng, (nhưng bán chậm dần vào những tháng cuối năm nhất là loại thời hạn hơn hai năm, trong khi lãi suất huy động tăng). Trên thị trường thứ cấp, doanh số giao dịch tiếp nối đà tăng từ trước đó với quy mô khoảng 32 nghìn tỷ đồng trong tháng này... Chính sách lãi suất tín dụng đã có sự điều chỉnh linh hoạt theo mức lạm phát, tình hình kinh tế vĩ mô và hoạt động thực tế của các ngân hàng cũng như hướng đến mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp nhiều hơn. Lãi suất cho vay (LSCV) và huy động (LSHĐ) đều giảm dần, còn lãi suất liên ngân hàng có dấu hiệu tăng dần trong quý cuối năm.

Trên tổng thể, mức tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng được kiểm soát phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý. Cùng với đó, những quyết sách áp trở lại trần LSCV và sự cải thiện mặt bằng lãi suất tín dụng chung đã phát huy tác dụng tích cực cả đối với doanh nghiệp, nền kinh tế, cũng như đối với hệ thống ngân hàng.

Giải pháp cải thiện thị trường

Tình hình thị trường tín dụng năm 2013 chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, cũng như còn khá nhiều vấn đề cần xử lý. Mặc dù NHNN đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy tăng trưởng nhưng tín dụng vẫn tăng thấp. LSCV tuy thấp dần, song ngân hàng vẫn đọng vốn do chưa tìm được khách hàng đủ điều kiện vay vốn và nhiều doanh nghiệp vướng vào nợ xấu, hoạt động cầm chừng, điều kiện tiếp cận tín dụng còn nhiều vướng mắc. Cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được vay vốn tuy đã có nhưng chưa triển khai được nhiều...

Theo bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN cho rằng: Nguyên nhân của việc tăng trưởng tín dụng từ năm 2012 đến nay còn thấp do sức hấp thụ của nền kinh tế thấp khi tổng cầu vẫn yếu, các doanh nghiệp không có đầu ra, lượng hàng tồn kho tăng cao... Ngoài ra, các TCTD cũng thận trọng hơn trong cho vay, nhất là trong điều kiện doanh nghiệp còn khó khăn, nợ xấu tăng cao. Song, các yếu kém tích tụ cũng được thể hiện ở sự bất cập, chồng chéo trong khuôn khổ pháp lý liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm, cũng như sự thiếu minh bạch, đầy đủ về thông tin tạo ra các "nút thắt" làm tắc nghẽn dòng tín dụng.

Vì vậy, trong thời gian tới cần tập trung điều tiết cung và hoàn thiện thể chế đối với cho vay BĐS. Trong đó cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng. Đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn cho vay các lĩnh vực ưu tiên như lúa gạo, cà-phê, hỗ trợ sau thu hoạch..., vốn đã giúp đầu tư tín dụng trong lĩnh vực này tăng. Đặc biệt, tiếp tục duy trì trần LSCV, từng bước nới lỏng trần LSHĐ, tự do hóa lãi suất theo đúng quy trình thị trường. Điểm cần chú ý là kiểm soát trần LSCV thay vì kiểm soát trần LSHĐ. Thực tế cho thấy, việc khống chế trần, nhằm hạ thấp LSCV, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về vốn cũng đồng thời giúp mở rộng thị trường vay vốn cho chính ngân hàng. Việc hạ LSCV trực tiếp cải thiện áp lực chi phí vốn cho doanh nghiệp và kích thích tiêu dùng, đầu tư xã hội với những hệ lụy tích cực lan tỏa của chúng, nhất là tăng động lực, cơ hội tiếp cận vốn và sức cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp; đồng thời, giúp mở rộng dư nợ tín dụng của các ngân hàng, dù trước mắt có thể làm giảm lợi nhuận.

Như vậy, việc áp trần còn là giải pháp hữu hiệu giảm thiểu tình trạng "đấu giá" LSCV và chạy đua lợi nhuận bất chấp rủi ro của các NHTM, từ đó giúp cân đối hơn cơ cấu dư nợ giữa các ngành và định hướng tốt hơn các luồng vốn cho sản xuất, giảm áp lực nợ xấu của cả doanh nghiệp và ngân hàng, tăng sự ổn định hệ thống và kinh tế vĩ mô. Đồng thời cần bảo đảm tuân thủ đúng quy trình thị trường là tự do hóa LSHĐ, trước khi tự do hóa LSCV, nhằm giảm thiểu những hệ lụy mặt trái như thực tế cho thấy.

Tập trung thúc đẩy tiến trình xử lý nợ xấu và đề án tái cấu trúc tổng thể nền kinh tế (trong đó có hệ thống ngân hàng), kể cả các hoạt động mua, bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A), sẽ tạo động lực mạnh mẽ, lâu dài cho phát triển thị trường tín dụng thời gian tới. Các hoạt động này cần dựa trên các nguyên tắc thị trường và xu hướng thế giới, các thể chế thị trường đồng bộ và cơ sở pháp lý chặt chẽ, minh bạch, bám sát các yêu cầu phát triển bền vững, bảo vệ lợi ích quốc gia và giảm thiểu sự chi phối của lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ...

Để giảm thiểu rủi ro và nợ xấu cho hoạt động tín dụng, quy trình cho vay cần chặt chẽ, từ tiếp cận thẩm định, quản lý nợ vay của từng khoản vay; cơ chế minh bạch rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm để giáo dục ý thức của cán bộ ngân hàng. Đồng thời, cần tiếp tục tiến hành đổi mới hệ thống NHTM toàn diện theo mô hình hiện đại, tăng năng lực cho các đơn vị trực tiếp kinh doanh, xây dựng hệ thống thông tin quản lý hiện đại. Ngoài ra, cần nghiên cứu việc Chính phủ hỗ trợ mua bảo hiểm rủi ro trong nông nghiệp cho nông dân; cấp bù lỗ và bảo hiểm LSCV đối với tín dụng nông nghiệp cho một số sản phẩm, địa bàn lựa chọn và cơ chế bảo lãnh tín dụng cho nông dân...

NHNN cần có chính sách cụ thể về phân loại nợ, đánh giá lại nợ phân tích, cơ cấu lại nợ, giãn hoãn trả nợ, tạm thời chưa thu lãi, xem xét những phương án tốt, vẫn có điều kiện kinh doanh tốt để có thể cho vay mới, trích lập dự phòng, xử lý rủi ro. Nhất là muốn thúc đẩy tăng trưởng tín dụng không chỉ là trách nhiệm của riêng ngành ngân hàng mà phải có sự phối hợp của các bộ, ngành nhằm giải quyết những yếu kém căn bản, nâng cao nội lực của nền kinh tế, tháo gỡ các "nút thắt" để dòng tín dụng có thể lưu thông hiệu quả đến từng ngành, lĩnh vực và các thành phần kinh tế.

Tháo gỡ "nút thắt" tín dụng ảnh 1

Khống chế mức trần, nhằm hạ thấp LSCV, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về vốn cũng đồng thời giúp mở rộng thị trường vay vốn cho chính ngân hàng. Ngoài ra, còn cải thiện áp lực chi phí vốn cho doanh nghiệp và kích thích tiêu dùng, đầu tư xã hội với những hệ lụy tích cực lan tỏa, nhất là tăng động lực, cơ hội tiếp cận vốn và sức cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp; giúp mở rộng dư nợ tín dụng của các ngân hàng.

Có thể bạn quan tâm