Tăng trưởng không chỉ là quy mô GDP

Tăng trưởng không thể chỉ dựa vào làm nhiều hơn, mà phải dựa vào làm hiệu quả hơn, thông minh hơn và tạo ra giá trị cao hơn. Do vậy, muốn có tăng trưởng hai con số, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, kiến tạo dư địa phát triển mới. Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, đã có cuộc trao đổi với Nhân Dân cuối tuần về vấn đề này.

Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế phát triển, giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, Huỳnh Thanh Điền
Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế phát triển, giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, Huỳnh Thanh Điền

- Mục tiêu tăng trưởng hai con số thực chất không chỉ là câu chuyện về quy mô GDP, mà còn phản ánh sự thay đổi về chất lượng tăng trưởng. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để đạt được mục tiêu này?

- Thực tế minh chứng, mô hình tăng trưởng truyền thống dựa nhiều vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên, mở rộng vốn đầu tư và gia công đã dần chạm ngưỡng. Dư địa từ dân số trẻ, tài nguyên và lợi thế chi phí thấp không còn nhiều, vì vậy rất khó đạt tăng trưởng cao nếu vẫn tiếp tục đi theo quán tính cũ. Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng là yêu cầu bắt buộc nếu Việt Nam muốn hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.

Nhưng tăng trưởng không thể chỉ dựa vào làm nhiều hơn, mà phải dựa vào làm hiệu quả hơn, thông minh hơn và tạo ra giá trị cao hơn. Do vậy, muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên hai hướng lớn: Cơ cấu lại các hoạt động hiện hữu và kiến tạo dư địa phát triển mới theo hướng nâng cao năng suất, tăng hàm lượng giá trị gia tăng, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.

Song song đó, Việt Nam cần kiến tạo những dư địa phát triển mới theo phương châm: Quy hoạch làm định hướng, hạ tầng làm nền tảng, thể chế làm đột phá và nguồn vốn xã hội làm động lực. Cách tiếp cận này sẽ mở ra các hành lang kinh tế mới, không gian phát triển mới và những lĩnh vực tăng trưởng mới phù hợp xu hướng của thời đại như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp công nghệ cao, logistics, đô thị thông minh và các ngành dịch vụ giá trị cao.

Nghĩa là, tăng trưởng hai con số không chỉ là tăng quy mô GDP, mà là quá trình chuyển đổi chất lượng tăng trưởng. Việt Nam phải chuyển từ tăng trưởng dựa vào khai thác nguồn lực sẵn có sang tăng trưởng dựa vào năng suất, đổi mới sáng tạo, công nghệ, thể chế hiệu quả và sự cộng hưởng giữa các thành phần kinh tế.

- Vậy đâu là những điều mà Việt Nam cần lưu ý, nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tục, thưa ông?

- Trước hết, chúng ta cần tránh rơi vào bẫy tài nguyên và lao động giá rẻ. Nếu chỉ dựa vào khai thác tài nguyên, nhân công rẻ và gia công đơn giản, nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh giai đoạn đầu nhưng sẽ sớm chạm trần và rất khó duy trì tăng trưởng cao.

Thứ hai, tập trung thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mà thiếu định hướng phát triển doanh nghiệp trong nước. Vai trò của FDI trong phát triển kinh tế rất quan trọng, nhưng nếu khu vực này hoạt động tách rời, nhập khẩu phần lớn đầu vào và ít liên kết với doanh nghiệp nội địa, thì giá trị lan tỏa sẽ hạn chế, thậm chí còn tạo ra mô hình “hai nền kinh tế trong một quốc gia”.

Thứ ba, “giải công nghiệp hóa sớm”, tức chuyển quá nhanh sang tài chính, bất động sản, dịch vụ và hoạt động đầu cơ khi nền tảng công nghiệp chưa vững. Cách đi này có thể tạo tăng trưởng ngắn hạn nhưng không tạo được năng lực sản xuất, công nghệ và việc làm năng suất cao. Với Việt Nam, công nghiệp hóa vẫn phải là trụ cột, nhưng cần hướng theo chiều sâu, gắn với công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp trong nước và chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ tư, mất cân đối trong đào tạo nhân lực. Nếu giáo dục và đào tạo phát triển theo phong trào, xã hội hóa mạnh nhưng không gắn với định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nền kinh tế sẽ dễ rơi vào tình trạng thừa lao động có bằng cấp nhưng thiếu nhân lực kỹ thuật, công nghệ, quản trị và đổi mới sáng tạo. Khi nguồn nhân lực không theo kịp yêu cầu của các ngành chiến lược, Việt Nam sẽ khó nâng cao năng suất, làm chủ công nghệ và khó chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.

1.jpg
Nếu khu vực FDI hoạt động tách rời, nhập khẩu phần lớn đầu vào và ít liên kết với doanh nghiệp nội địa, thì giá trị lan tỏa sẽ hạn chế.

- Để Việt Nam có thể trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, theo ông, đâu là yếu tố mang tính quyết định?

- Thực tế, cải cách thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và năng lực quản trị quốc gia đều là điều kiện cần để Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Song, nếu phải chọn yếu tố giàu tính quyết định nhất, theo tôi, đó là thể chế kiến tạo gắn với năng lực quản trị quốc gia.

Đây là hai yếu tố giữ vai trò kích hoạt, điều phối và chuyển hóa các nguồn lực thành kết quả phát triển. Một quốc gia có thể có vốn, nhân lực, công nghệ và tiềm năng thị trường, nhưng nếu năng lực chuyển hóa yếu thì các nguồn lực đó dễ bị phân tán, kém hiệu quả hoặc không tạo ra giá trị mới. Mặt khác, thể chế tốt sẽ tạo môi trường minh bạch, ổn định, giảm chi phí tuân thủ, bảo vệ quyền tài sản, khuyến khích đổi mới sáng tạo và giúp nguồn lực dịch chuyển đến nơi sử dụng hiệu quả nhất.

Vì vậy, để đạt mục tiêu đã đề ra cho năm 2045, Việt Nam cần xem cải cách thể chế và nâng cao năng lực quản trị quốc gia là “đột phá của các đột phá”, với trọng tâm là xây dựng một Nhà nước kiến tạo, quản trị bằng dữ liệu, điều phối hiệu quả các nguồn lực và nâng cao năng lực chuyển hóa quốc gia.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Vấn đề cốt lõi không chỉ là có bao nhiêu nguồn lực, mà là quốc gia có đủ năng lực biến nguồn lực thành năng suất, năng lực cạnh tranh và thu nhập cao hay không. Bởi năng lực quản trị quốc gia chính là khả năng điều phối thể chế, công nghệ, nhân lực, vốn và thị trường theo một tầm nhìn phát triển nhất quán.

Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế phát triển Huỳnh Thanh Điền

Có thể bạn quan tâm