Thị trường sau khoảng lặng
Có thể nói, Việt Nam từng chứng kiến một làn sóng M&A mạnh mẽ trong giai đoạn 2008 -2013. "Làn sóng M&A thứ nhất", với sự tăng trưởng gấp năm lần (từ mốc một tỷ USD đến năm tỷ USD) của các thương vụ M&A, đã tạo nên bộ mặt mới cho bức tranh tổng thể của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, sau giai đoạn cao trào ấy, năm 2013 được coi là "khoảng lặng" khi mà hoạt động M&A có xu hướng giảm nhẹ, với tổng giá trị ước đạt bốn tỷ USD. Vậy điều gì khiến cho các nhà kinh tế đưa ra dự đoán về một "làn sóng thứ hai" sắp sửa đổ bộ vào thị trường Việt Nam?
Thông tin "đốt nóng" thị trường chính là kế hoạch sẽ có 432 doanh nghiệp được cổ phần hóa trong hai năm 2014-2015 mà Chính phủ đã đề ra. Sức hấp dẫn không chỉ nằm ở những con số mà ở chính chất lượng "nguồn hàng" sẽ được đưa ra thị trường. Phải kể đến hàng loạt những cái tên tạo cảm hứng đầu tư như Vietnam Airlines và Mobifone, hay các tập đoàn lớn như dệt may, ximăng, thép, các doanh nghiệp ngành giao thông vận tải... Nhà đầu tư nước ngoài dĩ nhiên sẽ "trông giỏ bỏ thóc" để trở thành đối tác chiến lược lớn cho những thương vụ M&A đầy hứa hẹn này. Nhìn một cách tổng thể, Việt Nam đang trải qua một giai đoạn ý nghĩa về M&A, xét từ cả góc độ giá trị cũng như sự gia tăng số lượng các thương vụ.
So với "làn sóng thứ nhất", lần này các doanh nghiệp cổ phần hóa lớn cũng thu hút những nhà đầu tư lớn. Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu thuộc Công ty tư vấn đầu tư AVM, "gu" của nhà đầu tư cũng ít nhiều thay đổi khi tập trung vào các ngành như tài chính ngân hàng, bất động sản, y tế, công nghiệp... Năm 2013, Công ty kiểm toán nổi tiếng thế giới KPMG đã tiến hành khảo sát 400 nhà đầu tư, tài chính chiến lược tại Việt Nam, Xin-ga-po (Singapore), Hồng Công, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và khu vực châu Âu. Kết quả cho thấy xu hướng M&A mạnh mẽ tại Việt Nam sẽ còn tiếp diễn, với 69% số người được hỏi sẽ thực hiện ít nhất một thương vụ trong vòng 5 năm tới, chủ yếu trong lĩnh vực thực phẩm đồ uống, hàng tiêu dùng nhanh, bán lẻ và sản xuất công nghiệp.
Không cổ phần hóa bằng mọi giá
Trong các yếu tố thu hút vốn ngoại đến với thị trường M&A, việc tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp, đặc biệt là các ngân hàng, có sức hấp dẫn đáng kể. Đối với các doanh nghiệp đã cổ phần hóa, việc giảm tỷ lệ sở hữu của Nhà nước so với hiện nay cũng được xem là một trong những yếu tố thúc đẩy làn sóng M&A. Phó Vụ trưởng Vụ quản lý cấp phép các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước, ông Bùi Huy Thọ cho hay: M&A trong lĩnh vực ngân hàng cần phải được xem xét trong quá trình M&A của thị trường Việt Nam. Nhìn vào thực tế những năm trước đây, hoạt động của các ngân hàng tương đối khó khăn khi lãi suất liên ngân hàng, lãi suất tiền gửi tăng cao. Một số ngân hàng nhỏ, yếu kém cũng có những khó khăn về việc ổn định thanh khoản. Với chủ trương của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đẩy mạnh chủ trương tái cơ cấu ngành, và M&A là một giải pháp để đẩy mạnh tái cơ cấu. Sau một thời gian tái cơ cấu, các ngân hàng đã "khỏe mạnh" hơn, ít rủi ro hơn đối với nhà đầu tư, vậy nên M&A ngân hàng sẽ tốt hơn là điều có thể nhìn thấy trước.
Song, việc "đón sóng" đầu tư M&A không hề đơn giản. Nó đòi hỏi hàng loạt những biện pháp mạnh mẽ từ quản lý nhà nước để thúc đẩy cổ phần hóa, tạo dựng thiết chế cho các hoạt động vận hành M&A và sau đó nữa. Chỉ xét ở một lĩnh vực như bất động sản, ông M.Thao-xen (Marc Townsend), Tổng Giám đốc tư vấn về bất động sản CBRE Việt Nam cho rằng: Tuy các nhà đầu tư nước ngoài rất chú ý đến những dự án bất động sản hiện đang bế tắc vốn triển khai, nhưng khó tham gia bởi những rào cản nhất định, đặc biệt là về các quy định pháp lý để hình thành thị trường mua bán nợ. Ông S.Y-ô-si-đa (Sam Yoshida), Giám đốc điều hành cao cấp Công ty tư vấn độc lập M&A Recof (lâu đời nhất và lớn nhất Nhật Bản) thì đưa ra khuyến nghị đáng chú ý: Doanh nghiệp Việt không nên chỉ chú trọng đến giá bán mà cần quan tâm đến quá trình tích hợp sau này để tạo ra được giá trị cao nhất trong quá trình hợp tác với đối tác ngoại.
Nếu nhìn ngược lại tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, sẽ thấy con số 432 doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hóa trong giai đoạn ngắn có thể khó khả thi. Và giả dụ điều này có thành hiện thực thì cũng sẽ tạo ra áp lực nguồn cung quá lớn cho thị trường. Ông Đặng Quyết Tiến, Phó cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) lưu ý đến khả năng này, nhất là khi thị trường Việt Nam còn đang trong giai đoạn hồi phục, chưa thể phát triển mạnh mẽ như giai đoạn trước. Vậy nên, việc tiến hành cổ phần hóa phải có lộ trình. Theo đánh giá của Bộ Tài chính, tiến độ cổ phần hóa có sự chuyển biến đáng kể so với các năm gần đây. Dự tính đến cuối năm 2014, sẽ có khoảng 200 doanh nghiệp và cuối quý III-2015, toàn bộ các doanh nghiệp sẽ được phê duyệt phương án cổ phần hóa để tiến hành IPO.
Chủ trương lớn của Chính phủ là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải có có kế hoạch, không phải làm bằng mọi giá. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã giao trách nhiệm cho chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố, đặc biệt là các bộ trưởng, rà soát lại các đề án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thuộc khối trung ương đã được phê duyệt từ giai đoạn đầu 2011-2015, chọn ra những doanh nghiệp có đủ điều kiện để cổ phần hóa. Rõ ràng, quá trình cổ phần hóa phải được tiến hành chặt chẽ nhằm tránh thất thoát vốn nhà nước. Nhưng, cũng không thể vì cái sự "chặt" ấy mà làm cản trở tiến độ chương trình. Đó là hai mặt của vấn đề, với mục tiêu kiến tạo được một thị trường đủ vững vàng để "đón sóng" M&A.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Tài chính, tính đến ngày 20-6-2014, đã có 58 doanh nghiệp được sắp xếp, trong đó cổ phần hóa 38 doanh nghiệp, giải thể hai doanh nghiệp, sáp nhập 15 doanh nghiệp và đề nghị phá sản ba doanh nghiệp. Đến nay, đã có 297 doanh nghiệp nhà nước thành lập ban chỉ đạo cổ phần hóa, 159 doanh nghiệp đang tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp, 67 đơn vị đã có quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, 38 doanh nghiệp đã được phê duyệt phương án cổ phần hóa, 31 doanh nghiệp đã IPO.