Thậm chí, theo dự báo của nhiều chuyên gia, con số này có thể vượt ngưỡng 28-30 tỷ USD trong năm 2026.
Đây là minh chứng rõ nét cho thấy, nền tảng số đang là con đường ngắn nhất để hàng hóa Việt Nam hiện diện trên các sàn thương mại quốc tế. Song cũng từ đó, hàng hóa của Mỹ, Liên minh châu Âu hay Trung Quốc, ASEAN… có cơ hội tràn ngược trở lại thị trường Việt Nam.
Cũng chính không gian thị trường mở rộng đã đặt ra thách thức mới cho quản lý thuế và chống gian lận thương mại. Bởi khác với thương mại truyền thống, thương mại điện tử xuyên biên giới có cấu trúc giao dịch rộng hơn, tần suất và khối lượng giao dịch lớn hơn với nhiều tầng nấc trung gian. Đặc biệt là phần lớn dòng dữ liệu nằm trên hệ thống của doanh nghiệp, không còn ở hồ sơ giấy của cơ quan nhà nước, khiến cách quản lý “soi từng lô hàng” như thông lệ đã không còn phù hợp. Thế nên nếu khung thuế quan và chống gian lận không được đổi mới và điều chỉnh kịp thời với thực tế phát triển, chủ quyền thuế (khả năng tự quyết định chính sách thuế) và an ninh kinh tế sẽ dần bị bào mòn bởi thất thu thuế, gian lận, cạnh tranh không lành mạnh và các rủi ro mới nổi.
Thực tế, mặc dù các cơ quan thực thi pháp luật cũng đã có nhiều nỗ lực giải quyết song số vụ việc liên quan tới buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế vẫn gia tăng cả về lượng và tính chất nghiêm trọng. Môi trường số và thương mại điện tử đang trở thành “vùng trũng” rủi ro với nhiều hành vi vi phạm, nhất là trong các lĩnh vực nhạy cảm như: mỹ phẩm, thực phẩm, thực phẩm chức năng, thời trang. Không ít đường dây buôn lậu, gian lận đã sử dụng nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội như lớp vỏ bọc, khiến cơ quan quản lý khó truy đến cùng chủ thể vi phạm.
Điều đáng bàn, lỗ hổng lớn trong quản lý thuế quan nằm ở ngay tại chính sách đối với hàng nhập khẩu. Cụ thể, trước đây, nhằm giảm chi phí hành chính, Việt Nam đã thực hiện cơ chế miễn giảm thuế, phí đối với bưu kiện nhỏ. Khi thương mại điện tử phát triển, cơ chế này đã bị lợi dụng, chủ hàng chia nhỏ hàng hóa, khai thấp giá trị để nằm dưới ngưỡng miễn thuế.
Ngoài ra, nếu không đồng bộ hóa các loại thuế phí nhập khẩu, cơ chế khai tập trung theo lô và phân luồng rủi ro theo dữ liệu, thì gian lận chỉ đơn giản “chạy” từ cửa này sang cửa khác. Thế nên, nếu vẫn giữ tư duy “truy từng hộ, kiểm từng người”, bộ máy cơ quan thực thi pháp luật sẽ quá tải, trong khi tỷ lệ thất thu thuế vẫn cao.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nền tảng “cổng thu thuế” cũng chính là cách thức hiệu quả để bắt kịp tốc độ của thị trường. Thay vì kiểm tra giấy tờ theo lô, cơ quan quản lý cần chuyển sang giám sát bằng thuật toán, tập trung nguồn lực vào nhóm rủi ro cao. Tất nhiên, bít chặt lỗ hổng thuế quan. không có nghĩa là “bóp nghẹt” đổi mới sáng tạo. Do đó, nếu thiết kế chính sách một cách cơ học, nặng về thủ tục, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ khó trụ vững trong “cuộc chơi” thời đại số.
Như vậy, bài toán chính sách vì thế cần hướng đến việc cải cách pháp lý trong xây dựng một hệ thống thuế quan minh bạch, bảo vệ được lợi ích thuế, sử dụng phòng vệ thương mại để bảo vệ sản xuất trong nước trước hàng nhập khẩu không công bằng. Đó cũng chính là cách thức để thương mại điện tử xuyên biên giới trở thành động lực tăng trưởng xuất khẩu, vừa tạo thêm việc làm trong nước vừa nâng tầm chuỗi giá trị của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế ■