Kiên định con đường đi lên CNXH với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, cần liên tục đổi mới tư duy kinh tế và tư duy phát triển, không ngừng phân tích, đánh giá và rút ra bài học thành công và thất bại trên con đường “dò đá qua sông”, thực hiện một mô hình kinh tế mới chưa từng có tiền lệ. Trên con đường đó, thực tiễn sẽ là thước đo kiểm nghiệm chân lý, đào thải những gì không phù hợp, tiếp nhận những gì là chân giá trị. Chuyên trang Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN trên Báo Nhân Dân số đặc biệt kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam thảo luận về chủ đề này để nhận thức rõ những thách thức, khơi dậy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân tiếp tục vượt qua.
XỬ LÝ LỢI ÍCH CỤC BỘ NHÓM
TS Nguyễn Quang Minh (Trưởng ban Dân chủ - Pháp luật, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)
Mô hình “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” áp dụng ở nước ta với một thời gian chưa phải là dài, nếu không nói là còn quá ngắn ngủi nếu so với nhiều mô hình kinh tế đã tồn tại hàng trăm năm trên thế giới. Vì thế nên, việc nhận thức về mô hình kinh tế này còn đang ở chặng đường đầu, với những nét chấm phá rất đơn giản; và, tất yếu là còn có nhiều cách nhìn nhận khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau.
Với mô hình kinh tế này, bên cạnh những yếu tố cơ bản mang tính phổ quát của các nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, yếu tố “định hướng xã hội chủ nghĩa” với sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là một mạch xuyên suốt quá trình xây dựng, vận hành nền kinh tế. Trong đó, có tính nhân văn xã hội chủ nghĩa mà nếu thiếu vắng nó, sẽ không còn cái gọi là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta theo đuổi.
Tính nhân văn là yêu cầu, đặc trưng tất yếu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Nó đòi hỏi nền kinh tế phải vì mục tiêu nhân sinh, hướng tới các giá trị nhân bản của con người, lấy đáp ứng các nhu cầu của đông đảo nhân dân làm mục tiêu cao cả nhất.
Tính nhân văn đòi hỏi nền kinh tế phải huy động các nguồn lực cho phát triển một cách hợp lý, dân chủ và minh bạch, không phải vì lợi ích riêng của một giai cấp, một nhóm lợi ích hay một tập đoàn, một doanh nghiệp. Không thể nhân danh phát triển để huy động, sử dụng nguồn lực chung của xã hội, của số đông cho mục tiêu kinh tế và lợi ích cục bộ của một nhóm người.
Tính nhân văn đòi hỏi bên cạnh tác động của “bàn tay vô hình”, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có “bàn tay hữu hình” của Nhà nước để điều tiết các quá trình vận hành nền kinh tế gắn với phục vụ nhân dân và giải quyết những vấn đề dân sinh, phúc lợi xã hội; trong đó, dành sự quan tâm đặc biệt tới những đối tượng yếu thế trong xã hội (như người nghèo, người khuyết tật, người sinh sống ở vùng sâu, vùng xa...).
KHÔNG NGỪNG HOÀN THIỆN THỂ CHẾ
TS Võ Trí Thành (Phó Viện trưởng-Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
![]() TS Võ Trí Thành |
Qua 26 năm Đổi mới, Việt Nam đã có nhiều chuyển biến về chất trong nhận thức, cải cách kinh tế và thiết lập, hoàn chỉnh dần thể chế kinh tế.
Tuy nhiên “Luật chơi” hiện còn thiếu đồng bộ, mâu thuẫn (cả trong thể hiện văn bản và thực thi) và vẫn chưa thật tương thích với cơ chế thị trường và tiến trình hội nhập. Lưu ý là tiến trình cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện đã bước vào giai đoạn khó khăn hơn và có nhiều thử thách hơn do phải đối mặt với những vấn đề phức tạp và “gắn bó” hơn với định hướng XHCN (khu vực DNNN, các thị trường nhân tố sản xuất như thị trường đất đai, thị trường tài chính, thị trường lao động, việc thực hiện cam kết hội nhập kinh tế quốc tế).
Bất cập rõ nhất của bộ máy nhà nước và hành chính là sự yếu kém trong phối hợp hoạch định, thực thi chính sách và trao đổi phản hồi. Hiệu lực thực thi, khả năng giải trình yếu và việc thiếu ràng buộc trách nhiệm cũng là những vấn đề nghiêm trọng. Những tồn tại này đã hạn chế nhiều tác động tích cực của các chính sách tốt và nhiều khi hoạt động của bộ máy nhà nước mang tính “nhà nước vị nhà nước” hơn là “nhà nước vị công dân và doanh nghiệp”.
Các công cụ chính sách kinh tế đã tương đối có đủ “tên”, song hiệu lực và hiệu quả chưa cao. Mặc dù đã có sự “lồng ghép” các mục tiêu và một số chương trình mục tiêu, song việc tiên liệu tác động xã hội, môi trường của các chính sách kinh tế còn thiếu ngay từ khâu định hình và hoạch định chính sách. Việc thực thi giám sát sau đó cũng yếu. Trong khi đó, các mục tiêu chính sách thường quá tham vọng, chịu áp lực cứng nhắc theo nhiệm vụ chính trị, và thiếu linh hoạt cần thiết khi bối cảnh thay đổi. Nhiều ý tưởng chủ đạo vẫn mang nặng dấu ấn của những quan điểm về quản lý nhà nước trong một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Chức năng nhà nước trong nền kinh tế thị trường chưa được đề ra và lập luận sáng tỏ. Sâu xa hơn, trong khi các mục tiêu phát triển ngày càng gần với cách nhìn nhận có tính phổ biến trên thế giới thì quan niệm về định hướng XHCN lại chưa được làm sáng tỏ trong mối quan hệ với các mục tiêu đó.
DOANH NGHIỆP CẦN ĐƯỢC ĐỐI XỬ BÌNH ĐẲNG
TS Nguyễn Thị Kim Thanh
![]() TS Nguyễn Thị Kim Thanh |
Kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp cận dưới góc độ tài chính - ngân hàng đòi hỏi các quan điểm điều hành và phương thức quản lý tài chính, tiền tệ phải tuân theo các quy luật của KTTT và bản chất của CNXH để có thể bảo đảm thúc đẩy kinh tế phát triển, giải quyết hài hòa quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội. Mạnh dạn xóa bỏ tư duy bao cấp và quản lý bằng biện pháp hành chính, bằng mệnh lệnh chuyển sang quản, công cụ và đòn bẩy kinh tế. Quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ về tài chính của các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế ngày càng được nâng cao.
Hệ thống ngân hàng đã, đang và cần tiếp tục được cải tổ theo mô hình hiện đại, tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước thực hiện vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và chức năng của một ngân hàng trung ương trong ổn định hệ thống tiền tệ, kiểm soát lạm phát, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; từng bước mở cửa thị trường tín dụng, các dịch vụ ngân hàng phù hợp với cam kết quốc tế; phát triển một hệ thống các tổ chức tín dụng đa sở hữu với một thể chế tương đối hoàn chỉnh. Đặc biệt, bên cạnh hệ thống các ngân hàng thương mại đa hình thức sở hữu thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, đã hình thành một ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện nhiệm vụ cho vay xóa đói, giảm nghèo, thông qua các chương trình cho vay hộ nghèo, cho vay sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, và hỗ trợ các chương trình an sinh xã hội khác, như chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, giải quyết việc làm... Hệ thống chính sách, pháp luật cũng cần không ngừng được sửa đổi một cách tích cực theo hướng nâng cao nguyên tắc thị trường trong các hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh tiền tệ; nâng cao tính độc lập, tự chủ của các tổ chức trong hệ thống; xóa bỏ hoàn toàn khoảng cách đối xử giữa các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tái cơ cấu hệ thống ngân hàng trong từng giai đoạn phát triển.
CHỌN MÔ THỨC PHÁT TRIỂN PHÙ HỢP
TS Nguyễn Minh Phong
![]() TS Nguyễn Minh Phong |
Mô thức phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam ngày càng định hình rõ nét hơn, với ba đặc trưng nổi bật sau:
Thứ nhất, đó là nền kinh tế đa dạng, đa sở hữu, ngày càng tăng cường sự liên kết và tương tác giữa các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế và các thị trường.
Đó là nền kinh tế có sự tồn tại và cạnh tranh ngày càng bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp và thành phần kinh tế. Kinh tế Nhà nước giảm dần tỷ trọng, và hoạt động chủ yếu trong những lĩnh vực an ninh quốc phòng, khai thác các tài nguyên quý, hiếm, kinh doanh trong những ngành, lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa chiến lược. Kinh tế tập thể sẽ tiếp tục được đổi mới và phát triển đa dạng. Kinh tế tư nhân sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn và có đóng góp ngày càng quan trọng hơn cho sự phát triển kinh tế tương lai của mỗi địa phương, cũng như cả nước. Sự hợp tác, gắn kết kinh tế giữa các doanh nghiệp sẽ ngày càng đậm nét và hiệu quả hơn trong một cơ cấu hai tầng: Tầng trên là các doanh nghiệp lớn, mạnh cả về tài chính, công nghệ, hoạt động xuyên quốc gia và tổ chức theo mô hình tập đoàn, công ty mẹ - con; tầng dưới là các doanh nghiệp vừa và nhỏ được chuyên môn hóa sâu và có quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn với các doanh nghiệp khác, đồng thời chủ động tham gia ngày càng sâu và hiệu quả, liên kết toàn diện vào chuỗi giá trị và cung ứng kinh doanh toàn cầu. Các doanh nghiệp ngày càng có tính quốc tế hóa. Các công ty cổ phần, tập đoàn đa sở hữu sẽ ngày càng trở thành hình thức chủ yếu trong tổ chức của doanh nghiệp.
Thứ hai, đó là nền kinh tế ngày càng hướng vào khai thác các động lực và đáp ứng các yêu cầu phát triển theo chiều sâu và bền vững.
Nền kinh tế ngày càng chuyển từ phát triển bề rộng sang chủ yếu theo bề sâu, dựa trên khoa học và công nghệ (nhất là công nghệ sạch, hiện đại). Các doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến xây dựng và bảo vệ thương hiệu, phát triển văn hóa kinh doanh và thực hiện tốt các trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi sinh, tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu chất thải và phế liệu sản xuất. Sự phát triển các tiềm năng, tự do kinh doanh, sự hợp tác và thịnh vượng về kinh tế, sự đồng thuận, dân chủ và gắn kết về xã hội, hòa hợp và thân thiện hơn với môi trường sẽ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển.
Thứ ba, đó là nền kinh tế vận hành theo các nguyên tắc thị trường mở, phù hợp với các cam kết hội nhập quốc tế và có sự điều tiết của Nhà nước pháp quyền vì mục tiêu con người.
Các thiết chế thị trường và dân chủ xã hội khác ngày càng được hoàn thiện và phát triển đồng bộ, lành mạnh phù hợp với các cam kết hội nhập quốc tế. Môi trường đầu tư - kinh doanh ngày càng đậm tính thị trường, bình đẳng, minh bạch hơn và ngày càng đóng vai trò bà đỡ, trực tiếp nuôi dưỡng, thẩm định và phán quyết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ ngày càng tăng.
Đặc biệt, Nhà nước, với vai trò quản lý, khởi xướng, định hướng và thúc đẩy và kiểm soát hoạt động chung của nền kinh tế và các doanh nghiệp, sẽ ngày càng được cải cách theo hướng hiện đại và hiệu quả hơn; can thiệp gián tiếp là chủ yếu vào đời sống kinh tế - xã hội thông qua các quy hoạch, kế hoạch, đề án và dự án tổng thể và chuyên ngành, luật pháp và hoạt động tài chính công.
COI TRỌNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
TS Lê Tự Minh - Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần đầu tư IMG
![]() TS Lê Tự Minh |
Trong quá trình đổi mới và phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) có nhiều tiềm năng to lớn và ngày càng được đề cao như là động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Đến nay, KTTN đã đóng góp cho đất nước khoảng 60% GDP, giải quyết hơn 80% lực lượng lao động của xã hội. Đội ngũ doanh nhân trong khu vực này ngày càng có bản lĩnh và kỹ năng kinh doanh thị trường...
Phát triển nhanh chóng và hiệu quả khu vực KTTN là đòi hỏi cấp thiết từ cuộc sống và cũng là quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước; đồng thời, phải xuất phát từ thực tiễn đặc thù, các nguyên tắc của cơ chế kinh tế thị trường, cũng như các cam kết và thông lệ quốc tế trong xu hướng mở cửa, tăng cường, hội nhập quốc tế.
Điều quan trọng không phải là ban cho KTTN những đặc quyền, đặc lợi, mà là tạo môi trường bảo đảm khu vực doanh nghiệp tư nhân thật sự bình đẳng, công bằng với các khu vực doanh nghiệp khác, kể cả trong đấu thầu. Nhà nước cần có nhiều đột phá mới, táo bạo, tháo gỡ, giải quyết căn bản các vướng mắc, bất cập, bức xúc đang tồn tại hoặc sẽ phát sinh trong thực tiễn. Quản lý nhà nước đối với khu vực KTTN cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp được tự do kinh doanh theo pháp luật, bình đẳng, cùng có lợi; coi trọng định hướng, hỗ trợ, kiểm tra, kiểm soát đối với KTTN bằng chính sách, thông tin thị trường và khuyến khích quá trình tái cơ cấu kinh tế. Đặc biệt, cần thật sự đẩy mạnh cải cách nền hành chính quốc gia, sàng lọc, kiểm soát và trừng trị những kẻ nhũng nhiễu, vô trách nhiệm, sợ trách nhiệm đối với KTTN; kiện toàn tổ chức, nâng cao vai trò, năng lực, trách nhiệm của các hiệp hội ngành hàng, hiệp hội doanh nghiệp trong bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người lao động, tạo sự đồng thuận, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh trên cơ sở pháp luật và truyền thống dân tộc; giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc và trách nhiệm xã hội, bản lĩnh kinh doanh cho doanh nhân và người lao động; xây dựng một số thương hiệu chủ lực quốc gia và địa phương.
Trước mắt, cần tập trung giải quyết các khó khăn của khu vực KTTN về nợ đọng, nợ xấu, mặt bằng sản xuất, kinh doanh, nguồn vốn, năng lực khoa học - công nghệ và về thị trường...; tổ chức các đường dây nóng, các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc định kỳ và không định kỳ giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nhân, doanh nghiệp; mở rộng, phát triển đồng bộ và nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nghiệp vụ, nhất là cung cấp thông tin thị trường (chất lượng, giá cả và cung- cầu cũng như triển vọng sản phẩm); thông tin đối tác, cơ hội và kinh nghiệm kinh doanh; thông tin về môi trường đầu tư (các quy định pháp lý, thủ tục xuất- nhập khẩu; các yêu cầu và giấy chứng nhận về vệ sinh an toàn, chất lượng sản phẩm; các đặc điểm văn hóa, thị hiếu tiêu dùng; hệ thống phân phối hàng;...) và các dịch vụ xúc tiến thương mại (hội chợ, triển lãm, quảng cáo và tham quan thị trường, môi giới và tiếp xúc với các đối tác tiềm năng...); khuyến khích phát triển các dịch vụ hỗ trợ tư pháp, nhất là về đăng ký và xử lý tranh chấp thương hiệu, tư vấn kế toán, thuế, thủ tục xuất- nhập khẩu; các dịch vụ tài chính- ngân hàng, nổi bật là dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, bảo hiểm và bảo lãnh tín dụng (kể cả bảo lãnh tín dụng quốc tế, thế chấp bằng tài sản ở trong nước của các doanh nhân và doanh nghiệp Việt Nam); xây dựng và triển khai hiệu quả những chương trình giáo dục, đào tạo riêng, thích hợp nhằm bồi dưỡng kiến thức của các giám đốc doanh nghiệp cũng như người lao động trong khu vực KTTN...
PHẢI DỰA TRÊN NỀN TẢNG DÂN GIÀU
Bùi Kiến Thành - Chuyên gia kinh tế
![]() Bùi Kiến Thành |
Trong lịch sử nhân loại từ Đông sang Tây, từ xưa đến nay, không hề có một đất nước nào hùng mạnh được xây dựng trên nền tảng người nghèo. Nói cách khác, “dân giàu” là mục đích tất nhiên của mọi thể chế, dù ở phương Tây hay phương Đông. Ở nhiều góc độ, kinh nghiệm quốc tế luôn có ích cho phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Hàn Quốc, Singapore hay nước Anh, nước Mỹ... có nền kinh tế thị trường phát triển đều xây dựng một chế độ nhà nước pháp quyền, tích cực thực thi chính sách phát triển kinh tế trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát huy mọi nguồn lực để tăng năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Nhà nước có vai trò to lớn trong tài trợ các chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ...
Từ kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam còn phải đổi mới quyết liệt hơn nữa. Nền kinh tế nước ta đang phải đối diện với tình trạng bất ổn, nợ xấu, nhiều doanh nghiệp phá sản mà điểm xuất phát lại là từ hoạt động của hệ thống ngân hàng, phạm luật, phạm quy, trong khi các cơ quan quản lý nhà nước chưa đủ năng lực để điều chỉnh. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chiếm gần 50% tín dụng ngân hàng trong khi hiệu suất chưa cao, lãng phí và nợ khó đòi còn nhiều. Nhiều dự án tái cấu trúc vẫn chưa đi vào cuộc sống. Việc thực thi chính sách đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường của Việt Nam chưa đạt được kết quả như mong muốn, cốt lõi là do thiếu sự nhất quán trong tư duy kinh tế và một hệ thống quản lý nhà nước phù hợp. Hệ thống văn bản pháp luật đã được hiện đại hóa, nhưng bộ máy thực hiện vẫn còn thói quen và cách làm cũ, chẳng những chưa được nâng tầm năng lực và ý thức, mà còn “nặng nợ” với các giáo điều lạc hậu, lại thêm tha hóa, quan liêu, tiêu cực...
Trong tinh thần phấn khởi của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo người dân cũng như mọi người yêu nước đặt rất nhiều hy vọng vào một thời đại mới của một dân tộc thông minh, kiên cường, sáng tạo.
| Các doanh nghiệp ngày càng có tính quốc tế hóa. Hình thức cổ phần, đa sở hữu sẽ ngày càng trở thành chủ yếu trong tổ chức của doanh nghiệp. |




