Kỳ 1: Khoảng cách giữa nguồn lực và sức mạnh
Sau hơn nửa năm thực hiện Nghị quyết 80, đây là thời điểm thích hợp để kiểm chứng năng lực thực hiện. Việt Nam có nguồn vốn văn hóa dồi dào. Nhưng nguồn lực chỉ thật sự trở thành sức mạnh khi nó được đưa vào dòng chảy của đời sống, đóng góp tích cực vào sự phát triển của quốc gia.
Khoảng cách nằm ở khâu chuyển hóa
Hơn nửa năm kể từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam được ban hành, một hệ thống chính sách mới đã hình thành. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2 và Nghị quyết số 155/NQ-CP ngày 19/6 sửa đổi, bổ sung Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80. Quốc hội thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4 quy định một số cơ chế, chính sách phát triển văn hóa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1/7.
Hành lang chính sách càng mở rộng, yêu cầu về hiệu quả thực thi càng trở nên cấp thiết. Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm: Nguồn chi ngân sách cho văn hóa hiện khoảng 1,5% tổng chi ngân sách nhà nước, thấp hơn mức tối thiểu 2% mà Nghị quyết yêu cầu. Quan trọng hơn, khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình đến tác động thực tế còn lớn. Đây không đơn thuần là độ trễ thường thấy của một chính sách mới, phía sau nó là năng lực biến nguồn lực văn hóa thành những giá trị mới có thể tham gia trực tiếp vào đời sống và góp phần nâng cao vị thế quốc gia.
“Bốn khoảng trống” được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra tại phiên họp ngày 13/7 đó là: Sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa của các giá trị tích cực trên môi trường số còn hạn chế; di sản chưa được chuyển hóa tương xứng thành dữ liệu, tri thức số và tài sản trí tuệ; chưa có nhiều sản phẩm văn hóa đủ sức cạnh tranh; thể chế và các điều kiện cho công nghiệp văn hóa còn thiếu đồng bộ. Trong khi đó, mục tiêu đặt ra là các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, so với mức hiện nay mới chỉ đạt khoảng 4%.
Nếu nhìn riêng lẻ từng vấn đề, đây là những điểm nghẽn thuộc các lĩnh vực khác nhau: Công nghệ, di sản, thị trường, thể chế. Nhưng đặt trong tổng thể cho thấy, một hạn chế lớn hơn: Các nguồn lực hiện có chưa được kết nối thành một quá trình thông suốt. Một di sản quý nhưng nếu chỉ dừng ở hồ sơ bảo tồn thì phạm vi tác động vẫn hạn chế. Một kho dữ liệu được số hóa với số lượng lớn nhưng thiếu chuẩn chung, thiếu khả năng truy xuất và chia sẻ thì khó trở thành nguyên liệu cho giáo dục, nghiên cứu hay các ngành sáng tạo.
Việt Nam có hơn 40 nghìn di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, gần 70 nghìn di sản văn hóa phi vật thể; 38 di sản được UNESCO ghi danh. Đây là nguồn vốn hiếm có, tuy nhiên điều cần quan tâm là năng lực đưa kho tàng ấy vào đời sống đương đại một cách đúng đắn, có trách nhiệm và hiệu quả. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, có thể tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng; nếu dữ liệu chỉ nằm trong những kho khép kín thì chưa tạo ra giá trị mới. Cách đặt vấn đề này gợi mở một sự thay đổi quan trọng về thước đo: Từ hoàn thành một đầu việc sang xem xét đầu việc ấy đã tạo ra tác động như thế nào.
Các lĩnh vực khác cũng tương tự: Một tác phẩm sân khấu được đầu tư công phu nhưng khép lại vòng đời sau một đợt biểu diễn thì hiệu quả chưa đạt. Một làng nghề giàu bản sắc nhưng sản phẩm không thay đổi về thiết kế, cách kể chuyện và kênh tiếp cận sẽ khó hấp dẫn những lớp khách hàng mới… Từ kinh nghiệm thực hành công nghiệp văn hóa, đạo diễn Việt Tú chỉ ra rằng, Việt Nam còn thiếu nhiều mắt xích từ ý tưởng, sản xuất đến phân phối, cùng lực lượng nhân lực chuyên biệt như chuyên gia kinh tế văn hóa, chuyên gia sở hữu trí tuệ, chuyên gia phân phối sản phẩm hay quản trị doanh nghiệp văn hóa. Theo đạo diễn, một sản phẩm nghệ thuật thành công về thương mại phải tạo được hiệu ứng trong cộng đồng và nguồn lực để tiếp tục tái đầu tư cho những sản phẩm mới. Giá trị chỉ thật sự được nhân lên khi kết quả của một sản phẩm có thể tạo điều kiện cho sản phẩm tiếp theo, hình thành đội ngũ chuyên nghiệp hơn, thị trường tốt hơn và một hệ sinh thái đủ sức tự vận hành. Đó là một vòng tuần hoàn mà nhiều hoạt động văn hóa hiện nay chưa tạo dựng được.
Đưa văn hóa vào cấu trúc phát triển
Ba chuyển dịch lớn được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra tại Phiên họp ngày 13/7 là: Từ coi văn hóa là một lĩnh vực sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần, trụ cột phát triển và động lực tăng trưởng mới; từ không gian truyền thống sang đồng thời phát triển trong không gian thực và không gian số; từ thiên về bảo tồn sang kết hợp bảo tồn với sáng tạo để tạo tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia. Khi văn hóa được đặt trong cấu trúc phát triển, yêu cầu đặt ra cho từng lĩnh vực cũng thay đổi.
Thí dụ, để quy hoạch một đô thị, câu chuyện văn hóa không thể chỉ dừng ở việc dành quỹ đất cho nhà hát, bảo tàng hay trung tâm văn hóa, mà còn nằm trong cách ứng xử với ký ức đô thị, di sản kiến trúc, cảnh quan, không gian công cộng và đời sống cộng đồng. Khi phát triển trí tuệ nhân tạo, dữ liệu tiếng Việt, lịch sử, văn học, nghệ thuật và di sản Việt Nam không còn chỉ là tài nguyên lưu trữ mà trở thành một phần của năng lực tự chủ tri thức. Nếu thiếu dữ liệu văn hóa đủ lớn, đủ chuẩn và đáng tin cậy, không gian số trong tương lai rất có thể được định hình chủ yếu bằng nguồn tri thức và hệ quy chiếu từ bên ngoài.
Khi xây dựng du lịch địa phương, số lượt khách cũng không thể là thước đo duy nhất. Một điểm đến đông khách nhưng thời gian lưu trú ngắn, mức chi tiêu thấp, lợi ích đến với cộng đồng không nhiều và tài nguyên bị khai thác quá mức chưa thể coi là phát huy tốt nguồn lực văn hóa. Hiệu quả phải được nhìn từ khả năng giữ chân du khách, hình thành sản phẩm đặc trưng, mở rộng sinh kế và bảo vệ được những giá trị làm nên sức hấp dẫn của điểm đến.
Giữ gìn và tạo ra giá trị mới không hề đối lập nhau. Một câu chuyện lịch sử vẫn có thể tiếp tục đời sống trong sách báo, điện ảnh, hoạt hình, trò chơi hay giáo dục. Nghề thủ công có thể tạo sinh kế tốt hơn khi được “thổi hồn” vào những thiết kế mới và thị trường phù hợp. Nghệ thuật truyền thống có thể đến với những lớp công chúng khác nhau bằng cách thức biểu đạt đương đại. Nhưng việc khai thác phải dựa trên hiểu biết đúng về giá trị gốc, tôn trọng quyền lợi của cộng đồng và không đánh đổi bản sắc để lấy lợi ích ngắn hạn.
Ở tầm vĩ mô, thương hiệu và sức mạnh mềm quốc gia cũng không thể hình thành chỉ bằng các chiến dịch quảng bá. Sức hấp dẫn bền vững xuất hiện khi một đất nước có những câu chuyện, tác phẩm, hình ảnh và sản phẩm đủ sức khiến bạn bè quốc tế chủ động tìm đến, ghi nhớ, lựa chọn và yêu thích. Việc xác định văn hóa là nguồn lực mới chỉ là bước đầu, thách thức khó hơn nằm ở cách tổ chức nguồn lực ấy thành những năng lực cụ thể. Mỗi địa phương cần biết đâu là giá trị đặc sắc nhất của mình, chủ thể nào đang nắm giữ và thực hành giá trị đó, lợi thế nào có thể được phát huy, thị trường nào phù hợp và ai đủ khả năng tham gia. Không nên nhân rộng những mô hình chỉ vì đã gặt hái thành công ở địa phương khác.
Bởi vậy, xây dựng Bộ Chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ Chỉ số thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa và Bộ Chỉ số theo dõi, đánh giá thực hiện Nghị quyết 80 có ý nghĩa lớn hơn việc bổ sung thêm các công cụ thống kê thuần túy. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển dần từ đánh giá bằng số đầu việc sang đánh giá kết quả thực chất. Một thiết chế văn hóa hiệu quả cần được đánh giá ở số người sử dụng, mức độ tham gia và đời sống văn hóa được hình thành từ đó. Một chương trình số hóa không chỉ cần tỷ lệ hoàn thành mà cần xem xét dữ liệu có thể tìm kiếm, kết nối và khai thác hay không. Một chương trình hỗ trợ công nghiệp văn hóa không chỉ nên được đo bằng số dự án được cấp kinh phí mà bằng sản phẩm, tài sản trí tuệ, thị trường và năng lực mới được tạo ra.
(Còn nữa)