1. Đắm đuối, thiết tha, luôn ngập tràn xúc cảm trên một giọng kể ngân nga, dù thời gian đã làm phai tàn đi nhiều một Hoàng Cầm mắt rực sáng, đôn đáo cùng đồng nghiệp, bằng hữu dựng và diễn “Kiều Loan” ở Nhà hát Lớn Hà Nội chỉ được một đêm 28/11/1946 rồi đưa về diễn ở Phù Lưu, Đình Bảng và Đông Hồ bên Bắc Ninh, mỗi nơi hai đêm nữa, quyết thể hiện lòng yêu nước trong không khí căng thẳng quân Pháp đang gây hấn. Ấn tượng về những lần gặp ấy, là tưởng như thường xuyên lão nhà thơ sống trong không gian suy tưởng của hoài niệm, của ước ao sáng tạo. Dù ông tự nhận, sức yếu, chữ cũng mòn dần, lâu lắm không viết được, nhất là sau khi ông bị ngã phải nằm ngồi một chỗ.
Nhưng vào mạch chuyện, giọng có khi “lào phào” bởi răng đã rụng đáng kể, thì vẫn long lanh lên từ ánh mắt là nỗi niềm Hoàng Cầm với đời thơ, đời người, với những bạn văn thơ cũng từng sống kiên cường, quyết liệt và mê đắm với cuộc đời như ông. Kể về nhà văn Kim Lân (1920-2007) khi nhà văn vừa mất, Hoàng Cầm nhớ năm 1965 và năm bảy mươi mấy gì đó, hai lần ông mổ nằm Viện Việt Đức, Kim Lân đều lặng lẽ đến thăm… Nhà thơ bồi hồi: Gió to, Kim Lân vẫn trở lại, bình thường!
Và đặc biệt là chuyện sau kháng chiến chống Pháp, Kim Lân đi thực tế ở Thái Nguyên, viết được truyện ngắn “Người gác máy bay trên núi Cối Kê”. Lên thăm bạn, thấy truyện không xuất sắc lắm nhưng cảm động, Hoàng Cầm muốn mang về Hà Nội gửi in nhưng Kim Lân không chịu vì cảm thấy còn non yểu! Vài tháng sau về Hà Nội, nhà văn đưa cho mấy người bạn viết xem, nhưng kèm theo thông báo, rằng ông thấy mình không còn khả năng viết thêm gì, và dù mọi người động viên, ông vẫn tuyên bố ngừng viết vì nhận thấy mình đã đuối lắm!
2. Không có được sáng tác ưng ý thì thà thôi còn hơn! Đó là lựa chọn quyết liệt của tác giả những “Làng”, “Vợ nhặt”, “Ông cản ngũ”… và hàng loạt truyện ngắn đặc sắc kể tập quán, phong vị nông thôn. Còn với nhà thơ “Bóng chữ” Lê Đạt (1929-2008), thì Hoàng Cầm nhớ một người trẻ tuổi, nhanh nhẹn khi hai người quen và sớm thân nhau trong kháng chiến chống Pháp. Lê Đạt bộc lộ nét mới của mình khi không làm thơ vần điệu, lục bát, thất ngôn. “Thơ khi thành thật sẽ là dáng dấp, là máu thịt của mình. Những câu thơ của Lê Đạt chính là máu thịt của ông ấy. Ông ấy toàn làm kiểu văn xuôi nhưng ý nghĩ, cách viết luôn có vẻ mới”, nhà thơ Hoàng Cầm chia sẻ.
Ông còn nhớ một số lần Lê Đạt phát biểu, quan trọng nhất của người làm thơ là vấn đề “chữ”. Những bài thơ là “trường kỳ trận chữ”, là một cuộc ra quân, có đầu có đuôi, làm thế nào cho mới hẳn lên! Về các tập thơ “Cửa mở”, “Bóng chữ”, “Hèn đại nhân” của bạn, Hoàng Cầm nhận xét, đó là những năm đỉnh cao trong tinh thần thơ của Lê Đạt, ông cân nhắc từng chữ, từng câu, như thế nào là phải có lý lẽ của nó chứ không bao giờ viết ẩu, ra cái điều là có viết. “Viết có trách nhiệm với một nền văn học hẳn hoi!”, Hoàng Cầm khẳng định. Và ông nhắc lại lời nói như một quan niệm sáng tác của Lê Đạt: Để biết được thơ hay hay không là ở chữ anh dùng, và kết cấu của chữ.
Nhưng gần như có nét ngược với Lê Đạt, và bởi thế nên hai người bạn nhiều lần tranh luận sôi nổi, Hoàng Cầm lại cho rằng, nhịp điệu tạo ra nhà thơ, sự độc đáo và tính chất nhà thơ - khác với Lê Đạt nói: Chữ bầu ra nhà thơ. Trong một lần tự bạch, nhà thơ Hoàng Cầm cho biết, ông không bao giờ rời truyền thống, dù bây giờ có thể nghĩ khác đi, nhưng trong con người mình, làm gì mà không có âm điệu, không có nhạc, đúng với tâm hồn mình thì không thể làm được! Lần đó, ông kể: “Tôi đã tự hủy rất nhiều, cũng muốn đổi mới, làm khác đi, nhưng đối chiếu lại tâm hồn, thấy không được, xé đi. Muốn 5, 7 chữ gì, quan trọng nhất vẫn phải là âm điệu, là cái hồn”.
Khá căng thẳng, nhưng cũng rất ấm áp, như có lần tranh luận, nhà thơ Lê Đạt nói, làm thơ không cần vần, chỉ cần chữ biểu hiện được tâm hồn, tư tưởng của tác giả, đó mới là cái chính, với bất cứ bài thơ nào. Còn Hoàng Cầm thì lại cho rằng, chỉ có chữ thì không được. Cái quan trọng của thơ là hồn, mà hồn lại từ điệu. Bài thơ dù là văn xuôi, vần hay không vần thì cái điệu sẽ diễn tả tâm hồn của nhà thơ. Sau cùng cả hai người bạn đi đến thống nhất, điệu và chữ, cả hai cái cùng quan trọng.
Lại nữa, khác biệt có khi đến tưởng như mâu thuẫn về thơ với Hoàng Cầm, chính là trường hợp nhà thơ Trần Dần (1926-1997). Trong trí nhớ cũng đã phải chắp nhặt lại các đoạn ký ức của mình, nhà thơ “Lá diêu bông” kể về con người thơ, tinh thần sáng tạo của tác giả “Nhất định thắng”, “Đi! Đây Việt Bắc”…: Tôi biết Trần Dần sôi nổi, nhiều khi đến cực đoan. Ông ấy muốn đả phá hết những cái cũ để đưa ra cái mới hoàn toàn. Tôi phải can ngăn, anh đả phá hết cái cũ, không được. Anh phải nối cái cũ đến cái mới, phải gượng nhẹ đối với cái anh định phá. Nên, anh làm có cả truyền thông và hiện đại - cái này nặng hơn. Ông ấy muốn mới hoàn toàn, không bao giờ ông dùng lục bát, song thất lục bát. Tôi bảo, ngay trong bản thân anh cũng từ từ thôi.
Một bài thơ của nhà thơ Hoàng Cầm, viết khoảng năm 2006, không nhớ rõ tên:
“Chiều ấy em ra đi
Đâu phải lỗi từ cơn gió phũ phàng
Trời vẫn xanh màu xanh Bát Tràng
Đất vẫn nâu màu gạch già chùa Dâu
Hoa cứ vàng màu lụa tơ Xuân Liễu
Anh vẫn cười nụ hồng kiếp sau
Em thường nói kiếp sau mình đoàn tụ
Nên mây trắng ngọn Thiên Thai không ngủ
Dòng gạch non sông Đuống vẫn trôi mau
Phật ưu tư trên đài hoa Bút Tháp
Mà ni cô Phật Tích khóc gì đâu
Vậy mà em cứ ra đi
Con vành khuyên vẫn nép mình
Đem tiếng hót lên ngang trời đỏ rực
Rót xuống lòng ta
Nỗi chia xa tấm tức
Để Quan Âm kêu thầm oan khiên
Mấy nghìn năm che lấp nỗi sầu riêng
Cả Pháp Vân, Pháp Vũ
Cả thánh mẫu Man Nương
Pháp Lôi, Pháp Điện
Đã quy tụ vào môi con thạch sùng ổi ương
Chỉ chép miệng đêm rằm
Chùa Dâu đỉnh tháp
Mà giấc mộng tan mau
Trong tiếng chuông dài
Từ Lý triều xa bằn bặt
Còn lắng đọng
Còn ngân nga niềm xót xa… tám đời vua…
3. Người nghệ sĩ phải nói đúng tâm hồn mình. Vì mình yêu nước, dân tộc, con người và lấy tình yêu đó làm thơ, viết kịch… Đó là điều mà nhà thơ Hoàng Cầm ngẫm lại đời sáng tạo của mình và bạn hữu. Ông chia sẻ niềm tự hào khi quá trình thơ của mình không bao giờ bị công chúng quay lưng. Bởi vì, như ông nói, quá trình ấy, người làm thơ luôn phải cảm xúc với dân tộc, với con người chung quanh, với những buồn đau, những nỗi khổ. “Những hòa đồng ấy không phải viết ra ngay, mà nhập vào mình, nhào luyện trong mình. Đến lúc giao hòa được giữa cảm nghĩ của mình, của chung trong một phút thiêng liêng thì nó bật ra”.
Có những năm các nhà thơ gặp nhau thường xuyên, có khi hằng ngày. Nhà thơ Hoàng Cầm nhớ lại, buồn buồn một chút lại đi bộ đến nhà nhau. Làm được bài nào mới thì đọc cho nhau nghe, hoặc bình luận thơ trong nước. Thời gian đó, theo Hoàng Cầm, mọi người rất gắn bó và ấn tượng về thơ của nhau. Cả khi đã cao tuổi, có bài mới vẫn khoe nhau, vì “chỉ có điều đó là chứng tỏ mình sống”. Điều thú vị và đáng cảm phục ở những “ngôi sao” một thời và sẽ thuộc về nhiều thời đó, chính là sự tồn tại hòa thuận bên cạnh nhau của những cá tính thơ mạnh mẽ. Kết lại khi nhớ về các bạn thơ của mình, nhà thơ Hoàng Cầm nói: Thế nên, anh em làm thơ phải hiểu nhau, mỗi người có cái khiếu riêng, phải thúc đẩy được cái đó, nếu thúc đẩy chung chung thôi thì không thể hay được!
Nhà thơ Hoàng Cầm đọc cho tôi nghe một bài thơ từ bản thảo vào một lần tôi đến gặp ông tháng 7/2007. Ông bùi ngùi: Nghĩ đến thơ ca thì nó giải thoát cho mình. Nhưng đọc lại thì buồn quá đi! Chỉ có niềm yêu đời thôi. Tất nhiên là mình vẫn yêu đời cho nên tiếc lắm. Mình cứ ước mong là ông trời cho mình sống thêm năm chục năm nữa. Thèm sống lắm! Thấy cuộc sống vẫn đẹp lắm… Một bông hoa nở, cái lá mới nở, một cái cây mới non, đẹp lắm!