Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa:

Còn hổng trong phần đào tạo

Nội dung đào tạo trong Dự thảo còn thiếu hụt khi nhiều vấn đề, hiện trạng mang tính thực tiễn chưa được nhắc tới.

Đào tạo nhân lực du lịch cần được quan tâm hơn trong Dự thảo.
Đào tạo nhân lực du lịch cần được quan tâm hơn trong Dự thảo.

1. Từ ngày 5 đến 24/8, Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa (CNVH) đang được lấy ý kiến qua cổng thông tin https://bvhttdl.gov.vn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tại các vùng miền, Bộ cũng tổ chức các hội nghị góp ý cho Dự thảo. Tại đây có nhiều nội dung mới, tích cực với tinh thần đưa văn hóa vào guồng quay phát triển, tạo ra các giá trị về lợi ích kinh tế, tri thức… Các chương của Dự thảo tập trung vào tính nền tảng, hệ thống và sự tiếp sức cho CNVH như: Hệ sinh thái và hạ tầng CNVH, tài sản trí tuệ CNVH, phát triển thị trường và doanh nghiệp CNVH…

2. Tuy nhiên, nội dung chương IV về “Nhân lực CNVH”, ở Điều 19: “Hoạt động phát triển nguồn nhân lực CNVH trong hệ thống giáo dục quốc dân”, hầu như chỉ tập trung vào khái niệm “nghệ thuật” ở giáo dục phổ thông lẫn giáo dục nghề nghiệp, đại học. Ngay ở đây cũng còn thiếu bậc “cao đẳng”.

Trong khi đó, theo Điều 3, Chương I của Dự thảo, các ngành CNVH bao gồm: Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, nghệ thuật biểu diễn, phần mềm và các trò chơi giải trí, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo, truyền hình và phát thanh, xuất bản… Hai chữ “nghệ thuật” có lẽ chỉ bao hàm được các ngành: Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn... Chương IV cần bổ sung các từ ngữ, nội dung nói về đối tượng và hoạt động đào tạo phù hợp với các ngành như phần mềm và các trò chơi giải trí, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo, truyền hình và phát thanh, xuất bản.

Cụ thể hơn nữa về đối tượng, Điều 19 mới chỉ nhắc đến “nhà giáo, chuyên gia, nghệ sĩ, nghệ nhân và người có trình độ chuyên môn cao” mà còn thiếu đi nhà thiết kế, nhà báo (lĩnh vực báo hình-báo nói), chuyên gia về quảng cáo, truyền thông, xuất bản… Bản thân chữ “chuyên gia” hay “người có trình độ chuyên môn cao” được nêu trong Dự thảo cũng chưa thể bao quát hết được các đối tượng trên.

3. Tại Điều 19, Dự thảo cũng cho phép “quy đổi” khi danh hiệu nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân được công nhận đáp ứng tiêu chuẩn về văn bằng có tính đặc thù khi dạy các môn giáo dục nghệ thuật trong cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; hoặc có thể “phiên ngang” sang tiêu chuẩn của nhà giáo để dạy thực hành với trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học. Các nhà soạn thảo nên chú trọng thêm các danh hiệu khác như: Nghệ nhân dân gian của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam; các tước hiệu: Nghệ sĩ nhiếp ảnh Đặc biệt xuất sắc (E.VAPA/G), Nghệ sĩ nhiếp ảnh xuất sắc (E.VAPA) hay Nhà nghiên cứu lý luận phê bình nhiếp ảnh (PS.VAPA) của Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam...

4. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập rộng mở, nhiều nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia, nhà thiết kế… người Việt Nam đã giành được các giải thưởng, danh hiệu uy tín của nước ngoài hoặc mang tầm khu vực, quốc tế. Nhiều nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam được trao tước hiệu của Liên đoàn Nhiếp ảnh Nghệ thuật Quốc tế (FIAP). Cũng như các nhóm tác giả Việt Nam đã có những giải cao tại liên hoan báo chí-truyền thông ở tầm quốc gia, quốc tế… Đây cũng cần được coi là các “cấp bậc”, các thành quả có thể “quy đổi” để tận dụng lực lượng tinh hoa trong đào tạo các ngành CNVH.

Một băn khoăn nữa với Khoản 2 của Điều 19. Đó là “Đặc cách tuyển thẳng các thí sinh có năng khiếu nghệ thuật vào học các ngành học phù hợp trong các cơ sở đào tạo”. Thông thường, thí sinh ít nhiều có năng khiếu mới theo đuổi nghệ thuật. Nếu chỉ nói chung chung “có năng khiếu” thì việc tuyển thẳng các thí sinh hàng năm thi vào các trường đào tạo về sân khấu, điện ảnh, ca, múa, nhạc, ảnh… có lẽ không xuể. Cần quy định cụ thể hơn nữa như các trường hợp có “năng khiếu đặc biệt” hoặc giành giải cao trong các cuộc thi nghệ thuật dành cho học sinh phổ thông cấp tỉnh, vùng hoặc toàn quốc…

5. Cũng ở phần nội dung về đào tạo này của Dự thảo, có một số đoạn diễn đạt hơi rối, gây khó hiểu, cần điều chỉnh lại cho sáng rõ hơn. Thí dụ như phần g, Khoản 2 Điều 19: “Cơ sở đào tạo thống nhất với doanh nghiệp về tỷ lệ thời gian tham gia đào tạo của các chuyên gia, nghệ sĩ, nghệ nhân từ doanh nghiệp CNVH, cơ sở đào tạo được tính các chuyên gia là giảng viên cơ hữu phù hợp với tỷ lệ thời gian tham gia đào tạo để xác định chỉ tiêu tuyển sinh các ngành CNVH”. Tương tự, ở Khoản 1 Điều 20 về “Đào tạo tài năng, bồi dưỡng năng khiếu” có đoạn: “Chương trình tập trung nguồn lực phát triển những người có tài năng nổi trội, lĩnh vực ưu tiên và nhiệm vụ có khả năng tạo tác động dẫn dắt thị trường theo hình thức học bổng”…

Phát triển CNVH không thể thiếu nền tảng vững chãi, lâu bền, với nhiều chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực đào tạo. Đây có lẽ là nội dung còn “thưa vắng” hơn cả trong Dự thảo. Cần sớm hoàn chỉnh hơn vì nó liên quan đến cả ngành văn hóa, giáo dục… và rất nhiều đơn vị đào tạo cả công và tư, trải rộng trên các hoạt động của các ngành CNVH.