Nhân lực du lịch thiếu và yếu

Theo dự báo mới nhất của Tổ chức Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), năm 2015, tổng đóng góp của Du lịch và lữ hành vào GDP là 584.884 tỷ đồng (tương đương 13,9% GDP), tổng đóng góp việc làm của du lịch và lữ hành vào việc làm (trực tiếp và gián tiếp) năm 2015 là 6.035.000 việc làm (chiếm 11,2% tổng số việc làm) cả nước. Thế nhưng, các chuyên gia du lịch đánh giá, nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, vừa thiếu lại vừa yếu.

Chất lượng nhân lực là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ trong quản trị doanh nghiệp và xây dựng sản phẩm du lịch. Trong ảnh: Hướng dẫn viên du lịch giới thiệu với du khách
Chất lượng nhân lực là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ trong quản trị doanh nghiệp và xây dựng sản phẩm du lịch. Trong ảnh: Hướng dẫn viên du lịch giới thiệu với du khách

Ngoại ngữ kém, thiếu chuyên nghiệp

Những năm gần đây, du lịch được Đảng, Nhà nước quan tâm, định hướng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành du lịch cũng có đóng góp lớn vào nền kinh tế quốc dân, đồng thời đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập ASEAN thông qua Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch (MRA-TP), cho phép dịch chuyển lao động du lịch giữa các nước trong khu vực ASEAN.

Thực tế cho thấy, lao động du lịch Việt Nam ra nước ngoài làm việc hoặc làm cho các tập đoàn du lịch quốc tế lớn, các khách sạn 4-5 sao tại Việt Nam ngày càng tăng và ở nhiều vị trí khách nhau như quản lý khách sạn, điều hành, lễ tân khách sạn… với mức lương rất cao. Vì thế, nếu đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng, lao động du lịch Việt Nam có nhiều cơ hội làm việc trong môi trường quốc tế với mức lương và vị trí việc làm xứng đáng.

Nhiều cơ hội, nhưng theo các chuyên gia du lịch, mặt bằng chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch Việt Nam hiện rất thiếu và yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành du lịch trong nước. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ngành du lịch thất nghiệp hoặc làm trái nghề ngày càng tăng. Trong khi, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, khách sạn luôn trong tình trạng thiếu người làm được việc và nếu sử dụng gần như phải đào tạo lại. Nguyên nhân của tình trạng này là do đào tạo về du lịch trong các nhà trường hiện nay nặng về lý thuyết, chủ yếu là kỹ năng cơ bản, còn khoảng cách quá xa so với thực tế yêu cầu công việc. Vì vậy, các tập đoàn, công ty du lịch lớn như: VinGroup, SunGroup, Saigontourist, Vietravel, FLC, Mường Thanh… gần như phải đào tạo lại nếu sử dụng nhân lực trong nước.

Đào tạo nguồn nhân lực cũng đang rơi vào tình trạng hỗn loạn khi có quá nhiều cơ sở đào tạo nghề du lịch nhưng lại thiếu giáo viên, khung kiến thức không đổi mới, giáo trình không thống nhất. Cả nước hiện có hơn 360 cơ sở đào tạo tham gia đào tạo ngành du lịch các cấp từ lao động bán lành nghề cho đến sau đại học. Tuy nhiên, hiện nay giáo trình đào tạo nghề du lịch của Việt Nam cũng chưa được thống nhất nên mỗi trường có cách giảng dạy, giáo trình khác nhau, chủ yếu học lý thuyết chứ ít có cơ hội thực hành dẫn đến chất lượng sinh viên khi ra trường vẫn chưa đáp ứng được thực tế công việc tại doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên trong ngành du lịch không phát triển kịp cùng với sự gia tăng của các cơ sở đào tạo, nhiều giáo viên được thuyên chuyển từ chuyên ngành khác sang. Trong các trường chủ yếu vẫn là đào tạo những nghề cơ bản, những nghề mới liên quan tới giải trí, sáng tạo như du lịch mạo hiểm, du lịch MICE (du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo), du lịch y tế, chăm sóc sức khỏe, du lịch trực tuyến… vẫn còn rất hiếm.

Ông Đặng Tấn Hùng, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch thành phố Cần Thơ chỉ ra một thực tế đáng lo ngại: “Chất lượng nguồn nhân lực chính là điều khiến cơ quan quản lý về du lịch các địa phương và doanh nghiệp du lịch lo lắng nhất. Vấn đề đào tạo đội ngũ quản lý du lịch lại chưa tốt, thiếu trang thiết bị bảo đảm tiếp thu nghề du lịch và người được doanh nghiệp cử đi học thì lại hay bỏ học. Điều này dẫn đến sự thiếu đồng bộ về chỉ đạo, quản trị doanh nghiệp, xây dựng sản phẩm”. Bên cạnh đó, do điểm đến chưa được quy hoạch bài bản, không có nhiều cơ hội thực tế, đặc biệt là yếu về trình độ ngoại ngữ nên nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu công việc cũng như nhu cầu của du khách.

Tình trạng này xảy ra là do lao động Việt Nam thiếu tự tin trong môi trường làm việc quốc tế, làm việc thiếu chuyên nghiệp, tính kỷ luật lao động kém, thái độ phục vụ chưa chu đáo. Đặc biệt, chỉ 57% lao động sử dụng được ngoại ngữ, việc sử dụng thành thạo ngoại ngữ trong công việc của lao động du lịch Việt Nam lại càng rất hạn chế.

Nguy cơ thua trên sân nhà

Ông Trần Phú Cường, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Hợp tác quốc tế (TCDL) đưa ra cảnh báo: “Lao động du lịch ở các nước ASEAN như Phi-li-pin, Ma-lai-xi-a, Thái-lan, In-đô-nê-xi-a rất dồi dào và có lợi thế lớn về tiếng Anh so với lao động Việt Nam. Lực lượng này khi Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch có hiệu lực sẽ sẵn sàng “tràn” qua nước khác làm việc. Muốn không bị thua ngay trên sân nhà, lao động du lịch Việt Nam phải nỗ lực trang bị kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác”.

Với chứng chỉ Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch (VTOS), đáp ứng được các tiêu chuẩn nghề du lịch của ASEAN và đã được thừa nhận thông qua hệ quy chiếu chung, lao động du lịch của Việt Nam có đủ tiêu chuẩn dịch chuyển tự do trong các nước ASEAN. VTOS có mức tiêu chuẩn cao hơn so với tiêu chuẩn chung của ASEAN nên các sinh viên tốt nghiệp những trường đang áp dụng VTOS có cơ hội làm việc ở các nước trong khu vực, thậm chí là các nước châu Âu. Nhưng đó mới chỉ là sự công nhận về văn bằng, là yếu tố cần, còn để có thể được nhận vào làm việc ở các công ty du lịch nước ngoài, lao động du lịch Việt Nam cần phải có thêm nhiều kỹ năng khác.

Tổng cục Du lịch hiện đang tiến hành điều tra nguồn nhân lực ngành du lịch và phổ biến sử dụng phần mềm quản lý nguồn nhân lực quản lý nhà nước về du lịch dành cho Sở quản lý nhà nước về du lịch các tỉnh, thành trên cả nước. Cuộc điều tra này lần đầu tiên được triển khai với quy mô khoảng 30.420 cơ quan, doanh nghiệp là các đơn vị sự nghiệp công về du lịch, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú du lịch, tổ chức, hội, hiệp hội hoạt động về du lịch; tập trung vào thông tin về số lượng, vị trí việc làm, lĩnh vực chuyên môn và chất lượng nguồn nhân lực đối với từng lĩnh vực chuyên môn.

Việc triển khai hoạt động này, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, cho thấy sự thiếu chủ động, chậm trễ của cơ quan quản lý ngành du lịch. Khi mà mọi cơ hội và thách thức đã bày ra “trước cửa”, chúng ta vẫn chưa có được sự hình dung đầy đủ, chính xác về nội lực của mình, thì làm sao có đủ thời gian và sự đầu tư thích đáng để hoạch định chiến lược phát triển cho một ngành kinh tế đang được xem là mũi nhọn phát triển, bắt đầu từ khâu then chốt- nhân lực?

Muộn còn hơn không, ngay tại thời điểm này, cần có những giải pháp cấp bách với sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan hữu quan thì mới mong tận dụng được cơ hội phát triển cho du lịch. Để đạt được yêu cầu của hội nhập, chất lượng lao động đặc biệt là các kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu cần được quan tâm đào tạo theo hướng đáp ứng yêu cầu của thực tế. Đào tạo du lịch ở nước ta cần hướng tới tiêu chuẩn trình độ kỹ năng của khu vực và quốc tế được thừa nhận. Cần sớm hoàn thiện hệ thống chính sách và các cơ chế quản lý về phát triển nhân lực, nhằm tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch bảo đảm thống nhất, chất lượng, hiệu quả, được thừa nhận và đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch trên phạm vi cả nước và hội nhập khu vực. Sớm xây dựng và ban hành Khung trình độ nghề quốc gia trong lĩnh vực du lịch, bao gồm tám bậc, từ chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp đến trình độ tiến sĩ, bảo đảm thực hiện đúng cam kết trong ASEAN về thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch.

Cần xây dựng cơ chế khuyến khích đào tạo du lịch đồng thời với chiến lược hợp tác quốc tế. Như vậy, không chỉ nhà nước mà cả cộng đồng, cá nhân, các thành phần kinh tế, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân nước ngoài đều có điều kiện thuận lợi tham gia vào quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch.

Có thể bạn quan tâm