Phía sau một trưng bày giản dị

Không nhiều hiện vật, thông tin chủ yếu được trình bày ở dạng phác đồ các mốc thời gian kèm một số hình ảnh tư liệu chọn lọc, diện tích sàn có lẽ cũng chỉ hơn 30m2, vậy mà trưng bày ấy lại có thể mở ra trước mắt người xem nhiều chiều suy cảm…

Hai bộ trang phục mới của đồng bào người Chứt nổi bật tại Không gian trưng bày. (Ảnh An Trung)
Hai bộ trang phục mới của đồng bào người Chứt nổi bật tại Không gian trưng bày. (Ảnh An Trung)

Những trang sổ cũ đầy kiêu hãnh

Ngắm nghía chiếc hộp kính nhỏ, bên trong là những trang viết tiếng Pháp của nhà nghiên cứu dân tộc học tài danh Nguyễn Từ Chi (1925-1995), nhiều khách tham quan quốc tế, nhất là người Pháp, bày tỏ sự thán phục dành cho ông. Tư liệu quý giá ấy là minh chứng đậm nét cho thế hệ các nhà nghiên cứu dân tộc học đầu tiên của Việt Nam, bất chấp hoàn cảnh kháng chiến gian nan, từng ngày bền bỉ duy dưỡng chuyên môn nghề nghiệp của mình, với tất cả tình cảm, nhiệt huyết dành cho đất nước, cho đồng bào.

Bên trong chiếc hộp kính đơn sơ, những trang sổ tay nhuốm màu thời gian, nét chữ chân phương, điềm đạm, ghi lại chuyến điền dã Hòa Bình (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) trong một “đợt bất thường, tranh thủ thời gian sơ tán vì Nixon dọa ném (bom - PV) Hà Nội, tháng 5/1972”, một sổ khác cũng là từ một đợt điền dã tại Hòa Bình, năm 1966. Còn nguyên vẹn cả trang giấy rời, có hai màu mực, đen đỏ, vẽ lại một vùng cửa sông thuộc địa phận tỉnh Hà Tĩnh. Hình vẽ ấy được chọn làm nền cho một tấm pano lớn, dựng phía sau tủ kính, trên đó, có sắp xếp giới thiệu một số hình ảnh các cán bộ nghiên cứu dân tộc học thuộc nhiều thế hệ khác nhau đi điền dã, qua năm tháng, qua bao vùng đất để cùng góp công làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về lịch sử, văn hóa, con người và xã hội Việt Nam.

Họ âm thầm nghiên cứu, ghi chép cẩn trọng từng tên làng, tên xóm, tên vùng đất, số hộ, nhân khẩu, quá trình tụ cư và sản xuất… Tất cả dần tạo nên các trường thông tin đầy đặn về một địa phương, một tộc người, một hệ ngôn ngữ, một vùng văn hóa. Cách không gian trưng bày này vài bước chân, tấm bảng lớn “Xin chào”, bao gồm hình ảnh và tên gọi 54 dân tộc Việt Nam, xếp theo năm ngữ hệ, mở lối dẫn tới các phòng trưng bày cố định tiếp sau đó của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, là một chắt lọc từ quá trình nghiên cứu ấy. Và hẳn những trang viết tay trong những chuyến điền dã Hòa Bình đã góp phần tạo nên những thành quả nghiên cứu giàu có về tri thức và mỹ cảm của Nguyễn Từ Chi, trở thành mẫu mực của nghiên cứu dân tộc học Việt Nam, như Hoa văn Mường (năm 1978), Người Mường ở Hòa Bình (năm 1995), Vũ trụ quan Mường (bản tiếng Pháp, năm 1997).

Vận dụng nghiên cứu đáp ứng nhu cầu thực tiễn

Ngay chính giữa không gian trưng bày là hình ảnh bộ đôi trang phục nam, nữ được giới thiệu là thiết kế mới, để dùng trong sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Chứt, thuộc địa phận tỉnh Quảng Bình (trước sáp nhập, tháng 7/2025). Đây là kết quả từ Nghiên cứu, đề xuất mẫu trang phục của dân tộc Chứt ở tỉnh Quảng Bình năm 2024, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh và Viện Dân tộc học (nay là Viện Dân tộc học và Tôn giáo học) chủ trì, có sự tham gia của một số cán bộ nghiên cứu từ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, giảng viên Trường đại học Kiến trúc Hà Nội. Một nghiên cứu dân tộc học hiếm hoi “vượt ra ngoài phạm vi học thuật” và trưng bày bảo tàng, có thể hữu dụng trong cuộc sống hiện tại của đồng bào người Chứt gợi nhiều điều ngẫm ngợi.

Tiến sĩ Võ Thị Mai Phương, Trưởng phòng Nghiên cứu - Sưu tầm - Phim dân tộc học (Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam), người trực tiếp tham gia công trình này, đã chia sẻ đầy cảm xúc với chúng tôi về một hành trình đặc biệt. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát trên diện rộng, bao gồm cả năm nhóm đồng bào Chứt. Họ trò chuyện, lắng nghe ý kiến của các già làng, trưởng bản, cũng như phụ nữ và người trẻ, để hiểu rõ hơn không chỉ về quá khứ mà cả những mong muốn hiện tại của họ về bộ trang phục mang bản sắc của chính dân tộc mình, để có thể mặc trong các dịp sinh hoạt cộng đồng, lễ hội, giao lưu văn hóa.

Những trang phục được làm từ vỏ cây theo tục lệ xa xưa của người Chứt đã hoàn toàn biến mất trong cuộc sống hôm nay. Điều đáng chú ý, khi hỏi về việc khôi phục trang phục này, phần lớn bà con đều thấy nó không còn phù hợp điều kiện sống hiện tại. Từ đó, nhóm nghiên cứu xác định mục tiêu không phải là “phục dựng nguyên trạng”, mà là cùng cộng đồng xây dựng bộ trang phục mới, vừa có sự kế thừa các yếu tố văn hóa truyền thống, vừa phù hợp với đời sống đương đại. “Qua màu sắc, hoa văn, kiểu dáng, hai bộ trang phục là kết quả chắt lọc từ những đặc trưng văn hóa, các biểu tượng gắn với môi trường sống và đời sống tinh thần của đồng bào. Các phương án thiết kế được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong cộng đồng. Chỉ khi nhận được sự đồng thuận và được chính người Chứt chấp nhận như trang phục của mình, địa phương mới tiến hành tổ chức sản xuất và từng bước hỗ trợ, cấp phát cho người dân”, bà Phương cho biết.

Nhìn lại “trải nghiệm đáng nhớ” này, Tiến sĩ Phương nhận ra rõ hơn: Bảo tồn không đơn thuần là đưa quá khứ trở lại nguyên vẹn, mà quan trọng hơn là tìm ra cách để những giá trị ấy có thể tiếp tục tồn tại, được chấp nhận và “sống” trong đời sống hôm nay. “Nghiên cứu khoa học xã hội, nếu gắn chặt với thực tiễn và tôn trọng tiếng nói của cộng đồng, hoàn toàn có thể tạo ra những tác động cụ thể, lâu dài, trở thành một phần sống động trong đời sống hôm nay của chính cộng đồng ấy”, bà nhận định ■

Không gian bảo tồn văn hóa và lan tỏa tri thức khoa học xã hội là hoạt động mở đầu chuỗi sự kiện giới thiệu một số thành tựu nổi bật của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, góp phần thúc đẩy nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trưng bày diễn ra tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, từ ngày 11/4 đến ngày 15/5.

Có thể bạn quan tâm