Sự dịch chuyển ngược chiều
Câu hỏi đặt ra là xuất phát từ đâu mà Trung Quốc lại hành động như vậy?
Điểm mấu chốt là sự dịch chuyển ngược chiều nhau về thế và lực giữa Mỹ với Trung Quốc, hai cường quốc trong khu vực.
Nước Mỹ, vật lộn với hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, đồng thời tiến hành một cuộc chiến chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu, bị tiêu tốn khá nhiều nhân lực, vật lực. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã giáng cho nền kinh tế Mỹ những đòn choáng váng. Đó là chưa kể còn một “cuộc chiến” khác dai dẳng trong lòng nước Mỹ giữa hai nhánh lập pháp và hành pháp mà đôi khi, hệ lụy dở khóc dở cười của nó là chính phủ phải đóng cửa một số công sở vì không có tiền tiêu!
Tất cả những yếu tố đó đã làm xói mòn phần nào sức mạnh của nước Mỹ, vốn đi ra khỏi cuộc “chiến tranh lạnh” với tư cách một siêu cường duy nhất. Nói cách khác, biểu đồ sức mạnh của nước Mỹ diễn tiến theo chiều đi xuống.
Trung Quốc, trong vòng mấy thập niên cuối của thế kỷ 20 và kể cả trong những năm đầu của thế kỷ 21, kiên trì với phương châm của Đặng Tiểu Bình: “Không tiến lên hàng đầu”, tập trung vào phát triển kinh tế, đặc biệt là vành đai các thành phố ven biển, biến một số thành phố thành “công xưởng” của thế giới. Mỹ dần trở thành một trong những khách hàng tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc lớn nhất thế giới. Hàng hóa Trung Quốc giá rẻ tràn ngập thị trường Mỹ tạo cảm giác về một thứ “quyền lực mềm” của Trung Quốc ở ngay trên lãnh thổ siêu cường số 1 thế giới. Trở thành chủ nợ lớn nhất của Mỹ, điều đó mang lại sự tự tin lớn cho Trung Quốc.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức rất cao trong vòng hai thập kỷ qua cũng khiến cho Trung Quốc có một lượng dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới với tổng số lên tới 3.800 tỷ USD trong năm 2013. Tổng sản phẩm nội địa hơn 10.000 tỷ USD giúp Trung Quốc hất văng Nhật Bản ra khỏi vị trí nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, chỉ đứng sau Mỹ với 17.000 tỷ USD. Lượng dự trữ tiền khổng lồ giúp cho Trung Quốc có thể chi tiêu hào phóng cho mua sắm các trang thiết bị quân sự và mặc dù về giá trị tuyệt đối thấp hơn chi tiêu của Mỹ nhưng không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc là quốc gia có tốc độ tăng chi tiêu quốc phòng cao nhất thế giới. Ấy là còn chưa kể những chi tiêu thật sự của Trung Quốc trong lĩnh vực chạy đua vũ trang cao hơn nhiều con số công bố công khai.
Tốc độ phát triển kinh tế quá nóng đưa nền kinh tế Trung Quốc lên hàng thứ hai thế giới, nhưng cũng như bất cứ một tấm huân chương nào, mặt bên kia của nó đã nhanh chóng đẩy người dân vào tình thế phải giải quyết những vấn đề nan giải: sự chênh lệch về mức sống giữa các vùng sâu trong lục địa với chuỗi các thành phố phồn hoa ven biển; những mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc, bấy lâu nay bị kiềm tỏa bởi sức mạnh, nay cùng với sự phát triển kinh tế nóng, bắt đầu được “thả rông”, mang đến những vụ bạo lực đậm chất khủng bố ở nhiều đô thị lớn mà nhiều năm trước, hẳn là người Trung Quốc có nằm thấy ác mộng cũng không tưởng tượng ra được; sau hết, một nền kinh tế phát triển nóng đòi hỏi những nguồn lực vô tận, một cơn khát năng lượng triền miên, thôi thúc...
Tất cả những yếu tố tổng hòa đó dẫn Trung Quốc đến hai chữ: “trỗi dậy”!
Tại Hội nghị UNCLOS lần thứ 24 vừa qua, Việt Nam tiếp tục phản đối việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Nhìn về phía biển
Khi đưa ra với thế giới khái niệm “trỗi dậy”, người Trung Quốc mặc nhiên chấp nhận cái vị thế từng bị đè nén, không chỉ trong thời gian gần đây mà có lẽ đã có lịch sử từ xa xưa. Đất nước Trung Hoa rộng lớn bao la, người Trung Quốc “đông như quân Nguyên” nhưng bao phen bị những kẻ thù - oái oăm thay - nhỏ bé hơn rất nhiều lần, đánh bại và thống trị.
Khi Liên Xô sụp đổ vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, mất đi một đối trọng với Mỹ, Trung Quốc bất ngờ thấy mình đối mặt với một siêu cường duy nhất còn lại trên thế giới. Điều đó buộc các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải tìm kiếm những đối tác, những liên minh mới, kể cả với những quốc gia mà họ đã bao phen hiềm khích. Cũng từ giai đoạn này, Trung Quốc kiên nhẫn thực thi sách lược “thao quang dưỡng hối” của Đặng Tiểu Bình, giấu mình chờ thời. Cho đến khi cảm thấy quyền lực địa chính trị của Mỹ bắt đầu có chiều hướng suy giảm, Trung Quốc dõng dạc tuyên bố: đã đến lúc nước Trung Hoa trỗi dậy một cách hòa bình!
Chính trên tinh thần này mà ở Paris, với sự có mặt của Tổng thống Pháp và cả một châu Âu đang chăm chú nhìn vào, lãnh đạo Trung Quốc đã trích lời của Hoàng đế Napoleon Bonaparte, có ý ví Trung Quốc như một “con sư tử”, đồng thời đưa ra thông điệp: “Nay con sư tử đó đã thức giấc, nhưng là con sư tử dễ mến, thân thiện”(?).
Thật ra thì từ trước đó, Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc cuối năm 2012 đã vạch ra một trong những phương hướng cơ bản phát triển đất nước là biến Trung Quốc thành một “cường quốc biển”, vị thế mà qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển, Trung Quốc chưa bao giờ có được. Trong bối cảnh dân số tăng nhanh, một nền kinh tế đói khát năng lượng dữ dội, người Trung Quốc nhìn về phía biển với rất nhiều hy vọng. Và không có cách nào khác, cái cách mà người Trung Quốc làm cũng giống như các triều đại trước đây của họ đã từng làm: mở rộng phạm vi biên cương lãnh thổ bằng bất kỳ cách nào, kể cả bằng cách lấn chiếm, cơi nới, xâm phạm chủ quyền và tiến tới thôn tính lãnh thổ của các quốc gia khác.
Không có mà làm thành có!
Để mở rộng không gian sinh tồn về phía biển, Trung Quốc chỉ có hai hướng: tiến về phía đông, nơi Nhật Bản án ngữ, và đi về phía nam, xuống khu vực Biển Đông. Đó là lý do khiến Trung Quốc căng thẳng triền miên với Nhật Bản chung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và “Vùng nhận dạng phòng không”, xung đột với Philippines ở bãi cạn Scarborough và mới nhất, đưa giàn khoan nước sâu Hải Dương-981 hạ đặt trái phép sâu trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Chiến thuật của Trung Quốc ở Biển Đông, cụ thể là chung quanh vụ giàn khoan Hải Dương-981, là “vô trung sinh hữu”, không có mà làm thành có, cũng là một trong 36 kế sách của Binh pháp Tôn Tử. Nói một cách khác là Trung Quốc kéo giàn khoan vào hạ đặt trong vùng biển của Việt Nam với mục đích “nhất tiễn hạ song điêu”, vừa khoan thăm dò dầu khí, vừa “cắm chủ quyền” ở một vùng biển thuộc hoàn toàn chủ quyền của Việt Nam để biến thành một vùng tranh chấp. Một khi đã biến thành vùng tranh chấp thì Trung Quốc bắt đầu thực thi kế sách liên hoàn thứ hai, giải quyết tranh chấp trên cơ sở mà lâu nay Trung Quốc vẫn thực thi: “Cái gì của tôi là của tôi; cái gì của anh là của chúng ta!”.
Phép thử nghiệt ngã cho các bên
Bằng việc hạ đặt giàn khoan sâu trong vùng biển Việt Nam, Trung Quốc cũng đưa ra một phép thử nghiệt ngã với rất nhiều bên.
Trước hết là, thử xem Việt Nam sẽ phản ứng thế nào trước việc chủ quyền bị xâm phạm. Có lẽ Trung Quốc không bao giờ dám nghi ngờ lòng tự tôn tự cường, ý chí mãnh liệt về chủ quyền quốc gia, bảo vệ nguyên vẹn cương vực bờ cõi của người dân Việt Nam, nhưng vẫn hy vọng sử dụng những đòn tiểu xảo để biến vùng biển chủ quyền của Việt Nam thành vùng tranh chấp. Cho đến nay, có thể thấy ý đồ đó đã thất bại.
Sau nữa, việc đưa giàn khoan nước sâu vào vùng biển của một quốc gia thành viên ASEAN, không gì khác hơn là thước đo độ bền của tinh thần đoàn kết ASEAN, vốn từng bị thử thách ở Phnom Penh hai năm trước đây. Nhưng có vẻ như lần này, Trung Quốc đã tính toán sai lầm. Hội nghị các ngoại trưởng ASEAN ở Nay Pi Taw, Myanmar, tháng 5-2014, lần đầu tiên sau 19 năm, đã ra một tuyên bố riêng về vấn đề Biển Đông, bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về những hành vi muốn thay đổi hiện trạng trên Biển Đông bằng những biện pháp cưỡng chế, bạo lực. Tuy Tuyên bố không chỉ mặt đặt tên nhưng giống như trong truyện Harry Potters, chúa tể hắc ám Voldermort, “nhân vật mà ai cũng biết là ai” đó không ai khác chính là Trung Quốc. Nhiều nước thành viên ASEAN trước nay vốn không có tranh chấp trực tiếp với Trung Quốc, bắt đầu bày tỏ sự lo ngại rõ rệt trước những hành động ngày càng nghiêng về hướng chèn ép, sử dụng vũ lực trong tranh chấp chủ quyền của phía Trung Quốc.
Hải Dương-981 còn đặt ra một câu hỏi: liệu Mỹ có thể đi xa đến đâu sau những tuyên bố hùng hồn của mình về chiến lược “xoay trục” sang châu Á - Thái Bình Dương cũng như bảo đảm quyền tự do hàng hải trên một trong những tuyến vận chuyển hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới?
Chúa sơn lâm với cái bụng đói?
Đặt ra cho cộng đồng quốc tế nhiều câu hỏi như vậy, nhưng bản thân Trung Quốc cũng sẽ phải tự mình đối mặt với một câu hỏi nan giải khác: Trung Quốc sẽ được gì, mất gì sau một hành vi gây hấn với giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng biển của Việt Nam?
Đảo Phú Lâm, Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm giữ trái phép.
Bản thân một hành vi cưỡng chiếm lãnh thổ chưa bao giờ là một bảo đảm cho chủ quyền. Luật quốc tế quy định như vậy và điều này đúng với Hoàng Sa, quần đảo của Việt Nam mà Trung Quốc đã nhanh tay “đánh thó” từ năm 1974, trong một động thái tạm gọi là “tiện tay dắt dê”, khi lợi dụng tình thế “đi đêm” với Mỹ ở thời điểm trước đó.
Điều này cũng đúng với trường hợp giàn khoan Hải Dương-981, khi Trung Quốc hạ đặt xuống vùng thềm lục địa của Việt Nam. Dầu chưa thấy đâu, chủ quyền không có ai xác nhận, trước mắt, Trung Quốc đã phải chịu sự lên án mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế cũng như trong khu vực.
Về lâu về dài, hình ảnh một Trung Quốc “trỗi dậy hòa bình” đã bị đặt dấu hỏi. Con gấu trúc hiền lành đã biến thành con gấu ngựa hung tợn. Người ta có quyền đặt ra nghi ngờ rằng liệu có chăng một con sư tử “thân thiện, dễ mến”, hay thay vào đó trên thực tế chỉ là những tiếng gầm gừ đòi ăn tươi nuốt sống của một con sư tử đã thức dậy cùng tham vọng làm chúa sơn lâm với cái bụng đói?
Đó là những câu hỏi mà Trung Quốc, nếu muốn thực hiện tham vọng trở thành một cường quốc, sẽ phải trả lời một cách thực tế chứ không phải bằng những lời nói ngoa ngôn hoa mỹ, như từ trước đến nay họ đã từng!
| Cái cách mà người Trung Quốc làm cũng giống như các triều đại trước đây của họ đã từng làm: mở rộng phạm vi biên cương lãnh thổ bằng bất kỳ cách nào, kể cả bằng cách lấn chiếm, cơi nới, xâm phạm chủ quyền và tiến tới thôn tính lãnh thổ của các quốc gia khác. |
| Chiến thuật của Trung Quốc ở Biển Ðông, cụ thể là chung quanh vụ giàn khoan Hải Dương 981, là “vô trung sinh hữu”, không có mà làm thành có, cũng là một trong 36 kế sách của Binh pháp Tôn Tử. |