Cái đói rời xa
Từ trung tâm huyện Bảo Yên, dọc theo quốc lộ 279, men theo dòng sông Chảy hiền hòa, sau gần một giờ đồng hồ vượt gần 30 km đường núi với những trái núi cao ngất trời, những đỉnh đèo trắng xóa sương mù, thung lũng Mường Luông hiện ra trước mắt chúng tôi trong khung cảnh bình yên. Dọc đường vào trung tâm xã, những căn nhà sàn truyền thống nằm chon von bên ven suối, đồng bào người Tày đang tấp nập du xuân, tạo nên không khí ấm no vui nhộn.
Mường Luông xưa được đổi thành Nghĩa Ðô là một đất cổ, nơi người Tày đặt chân đến từ trăm năm trước, gồm 16 thôn bản nằm trọn vẹn dưới thung lũng bạt ngàn cánh đồng lúa. Xã có diện tích tự nhiên là 3.885 ha, dân số 4.785 người, gồm năm dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó người Tày chiếm 97%. Cách đây hơn chục năm, Nghĩa Ðô còn là vùng đất mà mỗi ai nghe thấy đã "nổi da gà" bởi khi ấy, quanh năm không khí hoang vu và khó khăn bao trùm. Con đường từ trung tâm huyện vào xã toàn đường đất, cây cối rậm rạp, những ngày mưa, đất núi sạt lở, đường trơn như đổ mỡ, Nghĩa Ðô dường như là một vùng đất biệt lập với trung tâm xã và huyện. Ðường đi khó cộng với điện sinh hoạt không có trong nhiều năm dài, cơ sở vật chất hết sức nghèo nàn, trình độ dân trí thấp khiến kinh tế địa phương gặp nhiều khó khăn. "Ai đến Nghĩa Ðô đều được đồng bào tiếp đón bằng ánh đèn dầu tù mù hoặc ánh lửa le lói trên những căn nhà sàn. Cuộc sống cứ lầm lũi trôi đi. Khi Chương trình 135 của Chính phủ về đến nơi, kết hợp với sự năng nổ của người dân, cuộc sống đã đổi thay. Con ma đói đã bị đẩy lùi rồi, người dân vui lắm, sướng lắm", ông Ma Thanh Sợi, nguyên Chủ tịch UBND xã Nghĩa Ðô cho biết.
Qua một thời kỳ thụ hưởng Chương trình 135, hết khó khăn, năm 2007 một số thôn Nghĩa Ðô tự tin rút ra khỏi chương trình. Ðây cũng là thời điểm cuộc sống mới với bao khởi sắc. Về với Nghĩa Ðô, ai cũng ngỡ ngàng trước sự đổi khác diệu kỳ của một vùng quê đã từng một thời đặc biệt nghèo khó. Các xã bạn cũng thể hiện sự kính nể: "Nghĩa Ðô thay áo nhanh quá!". Không còn hộ đói, trẻ em được đến trường, điện sáng về bản, nhà kiên cố mọc lên, đường rộng được mở thuận tiện cho đi lại... là những điều mà mỗi khi được hỏi, người dân nào cũng muốn "khoe".
Con đường 279 chạy xuyên qua xã là một yếu tố vô cùng quan trọng để lưu thông hàng hóa và phát triển kinh tế. Hơn thế, đường vào các bản Tày không còn là đường đất như xưa mà thay vào đó là những đoạn đường trải bê-tông phẳng phiu. Ở Nghĩa Ðô, vài năm qua đã xuất hiện những "đại gia" làm kinh tế giỏi. Họ chủ động vay vốn, phát triển kinh tế hộ gia đình, từng bước vươn lên thoát nghèo. Ðiển hình như gia đình ông Ma Văn Thế (bản Nà Khương) được người dân biết đến với mô hình kinh tế tổng hợp. Tận dụng diện tích đất hiện có của gia đình, ông Thế cùng vợ con mạnh dạn đầu tư đào ao thả cá, phát triển chăn nuôi đàn trâu, bò, ngựa trên núi. Thêm nữa, gia đình ông còn kinh doanh hàng tạp hóa và máy xay xát. Với mô hình kinh tế này, ông Thế đã giải quyết việc làm cho mười lao động ngay tại địa phương và mang lại thu nhập tới 200 triệu đồng mỗi năm. Cũng "một tay gây dựng cơ đồ", hộ ông Hoàng Văn Ngôi có thu nhập hàng trăm triệu đồng từ mô hình trang trại. Nắm bắt được thị trường có nhu cầu về sản vật vùng cao như vịt cỏ, gà đồi, cá sạch nên những năm qua, gia đình ông Ngôi tận dụng diện tích đất, ao hồ để nuôi thả. Hàng chục hộ dân khác đã tìm được phương thức làm ăn tốt, có thu nhập cao.
Rộn ràng hy vọng
Người già trong các bản làng ở đây cho biết, những phong tục truyền thống mang rõ bản sắc chỉ có ở vùng đất xa xôi, chưa bị ảnh hưởng nặng nề của thương mại hóa này vẫn được đồng bào gìn giữ trong nề nếp gia đình, dòng họ. Kể từ Tết dương lịch trở đi, người dân bản Tày tổ chức nhiều nghi lễ và làm nhiều đồ ăn thức uống hơn. Họ cũng lên núi tạ mộ cho tổ tiên, người thân, mời họ về ăn Tết cùng con cháu. Những phong tục truyền thống như "tắm rửa" cho công cụ lao động, dâng cơm mới, cúng thần bếp, cắt giấy xanh đỏ dán vào cột nhà đều được nhà nhà tiến hành trước Tết dương lịch và không khí ấy giữ mãi cho đến khi Tết Nguyên đán diễn ra, cùng với người Kinh dưới xuôi đón năm mới vui vẻ, hạnh phúc.
Nghĩa Ðô còn được xem như "miền ẩm thực" độc đáo của cả huyện mà chỉ vùng Nghĩa Ðô mới có. Tết đến xuân về, không thể thiếu được lợn đen cắp nách, gà tía ngủ trên cây, bánh chưng gói lá chít, nhộng cọ, thịt trâu sấy, rêu suối lam, thắng cố ngựa, khau nhục, mẻ chưng cá suối... Ðầu năm, bên bếp lửa của các gia đình, người Tày, người Dao tự tay mình nấu những mẻ rượu ngon, dệt những tấm thổ cẩm sặc sỡ sắc mầu và dành một phần cho dịp Tết.
Kinh tế không còn khó khăn, mấy năm nay mùa xuân như kéo dài hơn trong mỗi gia đình. Vào những ngày vui xuân, sân chơi của đồng bào lúc nào cũng xúng xính váy áo các chàng trai, thiếu nữ, với những nụ cười, những trò chơi vui nhộn. Chính giữa sân nhà cộng đồng, người dân dựng cây nêu và tổ chức ném còn, đánh đu, đánh quay, đẩy gậy, cà kheo. Ông Hoàng Văn Bóng - Bí thư Ðảng ủy xã Nghĩa Ðô cho biết: "Nghĩa Ðô là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, phong tục tập quán. Ðây cũng là một trong những thế mạnh để xã phát triển du lịch văn hóa làng bản trong hành trình du lịch về cội nguồn".
* Nghĩa Ðô đang vững tin "dệt" cho mình một tấm áo mới của ấm no và hạnh phúc. Ðó là một tấm áo đẹp với nhiều gam mầu tươi sáng. Trong con mắt họ, giờ đây cuộc sống không chỉ bù đầu kiếm cái ăn, mà còn nghĩ cách sống sao cho vui vẻ, cho chất lượng, đời sống văn hóa được nâng lên từng bước.