Câu chuyện Mobiphone - Vinaphone ở lại hay rời khỏi Tập đoàn Viễn thông Việt Nam những ngày qua trở nên sôi động khi xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau để bảo vệ cho việc ai đi ai ở.
Hoàn cảnh và bối cảnh
Muốn lý giải thấu đáo vấn đề xin ngược trở lại điểm xuất phát.
Mobiphone, sản phẩm theo hình thức BCC với Tập đoàn Komvik, được ghi nhận như sự thành công của quá trình đổi mới ngành bưu chính viễn thông.
Còn Vinaphone lại hoàn toàn ngược lại, hình thành hoàn toàn từ nội lực của Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (TCT91 - tiền thân của VNPT ngày nay). Khi hai doanh nghiệp di động này ra đời, thị trường viễn thông Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào đủ tiềm năng tham gia. Kể cả Viettel và Công ty CP Bưu chính - Viễn thông Sài Gòn (SPT) cũng đều chưa có đủ tiềm lực tài chính - kỹ thuật để đầu tư dịch vụ di động. Viettel định hướng tham gia từ dịch vụ thoại trên nền internet còn SPT đang bàn bạc với đối tác Hàn Quốc để triển khai di động theo công nghệ CDME. Như vậy, để thấy rằng, việc VNPT có cùng lúc hai nhà mạng di động là chuyện bình thường và là thành công đáng ghi nhận.
Đến nay trên thị trường dịch vụ di động đã có năm nhà mạng cùng cung cấp, nhưng thị phần của Viettel, Mobi và Vina chiếm hơn 90%. Nếu xét theo quan điểm thị trường cạnh tranh dựa theo Luật Cạnh tranh, thì đúng nhưng chưa đủ vì xét đến cùng về bản chất sở hữu, cả năm nhà mạng này đều cùng một chủ sở hữu là Nhà nước. Vậy nên, việc nhập, tách hay đổi tên một vài nhà mạng đều khó thay đổi được bản chất sự việc như nhiều người theo trường phái (tạm gọi như vậy) tách Mobi - Vina mong đợi.
Thực chất vấn đề nằm ở phương thức quản lý tài sản và phân phối lợi nhuận của công ty, nói cách khác là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Như thế bước đầu đã thống nhất được một việc quan trọng, ý tưởng doanh nghiệp ở đâu (Bộ hay Tập đoàn); hoạt động theo mô hình nào (Công ty cổ phần hay Công ty TNHH một thành viên) không quan trọng bằng việc phải bảo đảm hiệu quả xét cả về sử dụng vốn và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Vấn đề là phải chuyển cả hai nhà mạng nói trên hoạt động theo đúng mô hình công ty trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, doanh nghiệp, mà ở đây là HĐQT chỉ chịu trách nhiệm bảo toàn vốn được giao và tăng giá trị theo nhiệm vụ hằng năm hoặc trung hạn, còn việc xử lý quyền tài sản, kinh doanh, nhân sự,... do bản thân doanh nghiệp quyết định (trong bối cảnh Việt Nam hiện nay cần phải nhất thể hóa Đảng ủy trong DNNN với HĐQT).
Về trách nhiệm pháp lý, Nhà nước chỉ chịu tương đương số vốn nhà nước đã đầu tư, còn doanh nghiệp phải dùng tài sản của mình để trả nợ. Như vậy, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý được chia làm ba: quyền sở hữu là thuộc Nhà nước, quyền sở hữu pháp nhân tài sản của doanh nghiệp và quyền quản lý kinh doanh là của người điều hành quản lý (Giám đốc). Nếu làm được như vậy thì khi có những vụ việc như Vinashin hay xi-măng Đồng Bành xảy ra, nợ của doanh nghiệp không thể trở thành nợ Nhà nước.
Coi tái cơ cấu DNNN như cuộc cách mạng
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ ra ba khâu đột phá để tạo tiền đề cho đất nước phát triển, trong đó đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ cấu nền kinh tế là cả một quá trình thực hiện trong nhiều năm. Nên chăng cần phải coi tái cơ cấu các DNNN như một cuộc cách mạng, vì khi xác định rạch ròi trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp nhiều cản trở. Điều dễ thấy nhất là dùng lý luận về doanh nghiệp thời kế hoạch tập trung bao cấp hay dùng nội dung quản trị doanh nghiệp kiểu cũ để điều hành các DNNN dưới tên gọi là công ty cổ phần hay công ty TNHH... với danh nghĩa lực lượng vật chất điều tiết thị trường hay nghĩa vụ công ích...
Vì vậy, cần chuyển ngay toàn bộ DNNN đang hoạt động hạch toán doanh nghiệp của kinh tế thị trường tức là tối đa hóa lợi nhuận, bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ công ích, đi đầu trong thực hiện trách nhiệm xã hội... vì C. Mác đã coi phương thức hoạt động doanh nghiệp có nhiều người góp vốn, tách bạch rõ ba quyền trong doanh nghiệp (mà Việt Nam gọi là công ty cổ phần) chính là "hình thức phủ định cao nhất" của tư bản tư nhân.
Việc phát hành cổ phiếu đường sắt (mà C. Mác gọi là giấy chứng nhận quyền sở hữu) để huy động vốn là một thí dụ điển hình về việc chính quyền tạo điều kiện để hình thành một công ty với sự góp vốn của nhiều nhà tư bản, thực hiện một việc đầu tư (mà ở đây là đường sắt) phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm lợi nhuận hợp lý cho người góp vốn. Khi chuyển sang công ty cổ phần dù Nhà nước chiếm cổ phần chi phối như quan niệm hiện nay (hơn 50% vốn) thì Nhà nước cũng không được coi đó là DNNN và điều hành công ty theo phương thức cũ vì như thế sẽ làm triệt tiêu động lực của các nhà đầu tư khác và biến họ từ vai trò bình đẳng trong góp vốn trở thành "nhà đầu tư loại hai" mất quyền có ý kiến. Nhà nước phải tạo thói quen tôn trọng các nhà đầu tư đã góp vốn, tài sản vào các công ty cổ phần, để họ với tư cách là cổ đông ngày càng có nhiều quyền hơn trong công ty.
Nhà nước chỉ giữ định hướng phát triển và kiểm soát việc tuân thủ pháp luật mà Nhà nước định ra để phục vụ mục tiêu chiến lược của mình. Nói vậy nhưng để mọi cán bộ công chức từ bỏ thói quen chỉ đạo và có quyền lợi từ DNNN mà không phải chịu trách nhiệm là rất khó.
Đưa Hiến pháp vào cuộc sống
Để triển khai Hiến pháp sửa đổi và phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII cần sớm sửa Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Doanh nghiệp (phần DNNN) theo hướng tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu gắn liền với tổ chức Đảng (hiện nay là Đảng ủy khối DNTƯ.). Cần đưa vào Luật Ngân sách phần đóng góp từ lợi tức của nguồn vốn nhà nước tại DNNN để phục vụ lợi ích toàn dân, còn khi doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư phát triển sẽ phải lập dự án và thị trường vốn sẽ là người thẩm định, Nhà nước lúc này có thể góp vốn theo tỷ lệ cổ phần tại doanh nghiệp hay yêu cầu doanh nghiệp thực hiện vay vốn và tự chịu trách nhiệm theo nguyên tắc thị trường.
Nếu làm được như vậy thì xã hội sẽ ủng hộ và việc một DNNN do ai quản lý, Bộ hay Tập đoàn sẽ không còn là điểm quan tâm nhiều như hiện nay. Hay nói cách khác, người dân quan tâm doanh nghiệp đó làm gì cho đất nước, giúp gì cho cải thiện đời sống chứ họ không quan tâm doanh nghiệp đó thuộc ai hay tên gì, công ty cổ phần hay công ty TNHH.