Chân lý ấy được minh định bởi sự kiện ngày 28/1/1941 - thời điểm lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, sau 30 năm hoạt động quốc tế.
Bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
Năm 1911, khi rời Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã có một “la bàn” hữu hiệu để chọn đường, rằng: Học thuyết nào, tổ chức nào thật sự quan tâm, ủng hộ cách mạng thuộc địa thì đó mới là học thuyết, tổ chức cách mạng chân chính. Với khẩu hiệu “Vô sản thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”, với chủ trương ủng hộ quyền dân tộc tự quyết, V.I.Lênin đã làm Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn tin tưởng vào chủ nghĩa của mình, vào Quốc tế Cộng sản và ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười. Vì thế, Nguyễn Ái Quốc quyết định đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp và cán bộ của Ban Phương Đông trực thuộc Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn có điều kiện hoạt động ở các địa bàn ít cam go hơn. Nhưng, với một con người mà “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc”, thì Tổ quốc đau thương là nơi nhất định phải trở về. Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18/2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật”[1]. Quyết tâm vượt qua muôn vàn trở ngại về công tác tổ chức, cuối tháng 10/1938 Người đã rời Liên Xô về Trung Quốc để gần gũi hơn với quê hương. Ngẫm lại, đây là quyết định đúng đắn của Bác và cũng là điều vô cùng may mắn cho dân tộc Việt Nam. Nếu chỉ chậm lại một năm thôi, chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, con đường trở về của Người sẽ gian nan gấp bội.
Về đến Trung Quốc, Người móc nối liên lạc và đã gặp được các đồng chí Vũ Anh, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… Trước sự biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới và trong nước, như chính phủ Pháp đầu hàng phát-xít Đức (tháng 6/1940), Nhật nhảy vào Đông Dương (9/1940) và sự tổn thất lớn của hệ thống tổ chức Đảng sau khởi nghĩa Nam Kỳ, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quyết định cùng với các đồng chí của mình nhanh chóng về nước, để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng.
Lịch sử đã đặt lên vai Nguyễn Ái Quốc sứ mệnh “tìm đường” cho dân tộc. Khi đã tìm ra, Người trở về để trực tiếp “dẫn đường” cho cách mạng Việt Nam. Đây là bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên, “khởi sự” từ nơi nào là câu hỏi rất quan trọng, có ý nghĩa tác động tới toàn bộ tiến trình cách mạng. Là nhà lãnh đạo thiên tài, Nguyễn Ái Quốc hiểu rằng: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến phải có hậu phương”[2]. Trong quan điểm của Người, căn cứ địa phải là nơi có địa thế hiểm yếu để “tiến có thể công, thoái có thể thủ” và quần chúng phải có tinh thần cách mạng cao. Soi chiếu vào thực tế, Người quả quyết: “Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi”[3].
Cao Bằng với “Ba mặt Tam Giang trôi cuồn cuộn/ Bốn bề tứ trụ đứng chon von” và có đường thông sang Trung Quốc quả thật rất đắc địa cả cho việc thủ lẫn việc thoái. Cao Bằng cũng là nơi chính quyền cách mạng ra đời từ rất sớm và phong trào cách mạng phát triển rất cao. Vì thế, Người đã quyết định chọn xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng làm “đột phá khẩu”. Mảnh đất địa đầu Tổ quốc vinh hạnh thay mặt nhân dân Việt Nam đón chào vị lãnh tụ kính yêu trở về sau 30 năm bôn ba khắp chân trời, góc bể. Từ nay, Người đứng trên mảnh đất quê hương, kề vai sát cánh cùng các đồng chí và nhân dân của mình để tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Bác về nước - bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là vĩ nhân của dân tộc và thời đại nên mỗi dấu mốc trong cuộc đời Người đều tạo ra những bước ngoặt cho lịch sử Việt Nam. Uy tín tuyệt đối của Người xác lập vị thế là người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) để hoàn thiện chiến lược về cách mạng giải phóng dân tộc.
Ngay từ khi thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh: Việt Nam là nước thuộc địa - phong kiến nên cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ là chống đế quốc và chống phong kiến. Song, chống đế quốc phải là nhiệm vụ hàng đầu và lực lượng cách mạng phải là toàn dân. Tuy nhiên, tình cảnh “một cổ hai tròng” của nhân dân dưới ách thống trị của Pháp - Nhật đã đẩy cao hơn nữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Tại Hội nghị Trung ương 8, với sự sáng tạo và quả quyết, Đảng ta đã khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”[4]. Việc xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ duy nhất và tạm gác vấn đề ruộng đất sẽ giúp Đảng quy tụ toàn dân vào mục tiêu giải phóng dân tộc.
Hội nghị Trung ương 8 dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng đưa ra một quyết định mang tính đột phá về vấn đề mặt trận khi quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận dân tộc riêng nhằm khơi dậy tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Ở Việt Nam, đó là mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh.
Hội nghị Trung ương 8 còn coi việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trọng tâm và xác định hình thái khởi nghĩa ở Việt Nam là “đi từ khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa”. Để thực hiện nhiệm vụ đó, việc xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng cần gấp rút chuẩn bị.
Có thể khẳng định: Hồ Chí Minh là “linh hồn” của Hội nghị Trung ương 8. Dưới sự dẫn dắt của Người, sự chuyển hướng chiến lược của Đảng đã được hoàn tất. Điều này đánh dấu bước trưởng thành lớn trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và giai cấp, phản đế và phản phong ở một nước phong kiến - thuộc địa. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Ái Quốc, một chiến lược giải phóng dân tộc đúng đắn đã được hình thành trên nét lớn.
Sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước cách đây tròn 85 năm thật sự là một “mốc son” trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Từ đây, con thuyền cách mạng sẽ do vị lãnh tụ kiệt xuất trực tiếp chèo lái; căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang sẽ ra đời; lực lượng chính trị là các tổ chức Cứu quốc được xây dựng trong mọi giới, mọi ngành, mọi lứa tuổi sẽ quy tụ đông đảo nhân dân Việt Nam yêu nước; tổ chức Đảng thêm vững vàng khi được một thiên tài và cũng là “linh hồn” của khối đoàn kết trong Đảng và toàn dân tộc, trực tiếp dẫn dắt. Nhờ đó, một cao trào giải phóng dân tộc đã được mở ra mà đỉnh cao chính là Cách mạng Tháng Tám - bước khởi đầu mang tính đột phá cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này.
Với trái tim rộng mở của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi nào trên đất Việt Nam cũng là quê hương, người dân nơi đâu cũng là ruột thịt. Nhưng, Người luôn dành một tình cảm đặc biệt cho Cao Bằng- “Thánh địa cách mạng”. 20 năm sau, vào ngày 19/2/1961, Người đã trở lại nơi đây, thăm hang Pác Bó và viết lên những câu thơ như sự đúc kết một chặng đường lịch sử:
“Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật - Tây
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”.
85 năm đã trôi qua nhưng ngọn lửa cách mạng mà Người đã nhen nhóm từ “mảnh đất thiêng” vẫn rực cháy trong ký ức lịch sử của dân tộc. Ngọn lửa ấy sẽ tiếp sức để toàn dân tộc tự chủ, tự tin, tự cường bước vào kỷ nguyên phát triển mới với tinh thần “dời non, lấp bể”, xứng đáng với con người từng quyết tâm “Hai tay gây dựng một sơn hà” nơi mảnh đất địa đầu của Tổ quốc ■
------------------------------
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.3, tr. 13.
[2] Dẫn theo Văn Tiến Dũng: Đi theo con đường của Bác, Nxb CTQG, H, 1993, tr 173.
[3] Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường cách mạng lịch sử, NXb CTQG, H, 2012, tr.37.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t.7, tr.119.