Dần dà, giữa những người Việt Nam và cậu con trai của bà giáo hình thành mối quan hệ thân tình. Họ giao lưu, đá bóng cùng nhau, hiểu nhau một cách kỳ lạ…
Và rồi, như một sự sắp đặt của số phận, cậu bé năm nào lớn lên, trưởng thành và trở thành Đại sứ Belarus tại Việt Nam - ông Uladzimir Baravikou.
Là một phóng viên theo dõi mảng quốc tế, tôi thường tò mò chuyện người nước ngoài nghĩ gì về Việt Nam. Lần này, gặp Đại sứ Uladzimir Baravikou, mọi thứ diễn ra suôn sẻ. Nhưng rồi tôi nhận ra, có hai câu mình quên hỏi ông. Câu đầu tiên là:
Cần bao lâu để hiểu một nơi không phải là nhà?
Ông Uladzimir Baravikou đã có gần bốn năm làm Đại sứ Belarus tại Việt Nam. Những gì bốn năm qua ông cảm nhận về Việt Nam, liệu đã đủ để ông được công nhận là một người am hiểu Việt Nam?
Từ những ngày đầu công tác tại Việt Nam trong vai trò Đại sứ, sự hiếu khách của người dân nơi đây đã khiến ông cảm thấy ấm áp và gần gũi. Ông nhận ra, người Việt Nam đến giờ vẫn giữ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ mà Liên Xô (trước đây) và nước Cộng hòa Belarus đã dành cho nhân dân Việt Nam anh em trong đấu tranh giành độc lập, cũng như tái thiết và phát triển đất nước. Tình cảm tốt đẹp ấy là điểm tựa quý giá, giúp Đại sứ thêm gắn bó, thuận lợi trong công việc và cuộc sống tại Việt Nam.
Thời thơ ấu của Đại sứ, Việt Nam dù xa xôi cách trở về địa lý, song thật gần về tâm hồn và tư tưởng. Sau hơn 40 năm từ những hình dung đầu tiên về một quốc gia nằm tận phía Đông, Đại sứ đặt chân lên dải đất chữ S. Trước mắt ông, Việt Nam đã tiến một chặng đường rất dài từ một quốc gia lạc hậu, vươn lên thành một nước phát triển năng động, mạnh mẽ. Với Đại sứ, Việt Nam giờ là một trong những quốc gia dẫn đầu về công nghệ ở Đông Nam Á và có đủ cơ hội đạt vị thế của một nước phát triển, có thu nhập cao. Đại sứ bày tỏ hãnh diện, vì nghĩ ở góc độ nào đó, quê hương Belarus của ông cũng có đóng góp vào thành tựu này.
Đất nước Việt Nam trong mắt Đại sứ đang thay đổi theo đúng nghĩa đen mỗi ngày và “ngay trước mắt chúng ta”. Chất lượng dịch vụ cao, giá cả hợp lý, cùng sự đa dạng, phong phú sản phẩm, thực phẩm, nhất là trái cây và rau quả tươi quanh năm. Cũng không thể không kể đến các khu nghỉ dưỡng ven biển, hay những ngọn núi hùng vĩ. Những cánh đồng lúa trĩu bông ở Lào Cai, cùng những hàng mận lúc lỉu quả ở Mộc Châu khiến “không ai có thể thờ ơ được”... Với ông, Việt Nam có đủ tiềm năng đạt được mục tiêu đầy tham vọng là trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Trong những lý do giúp Việt Nam cất cánh, bên cạnh vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Đại sứ nhấn mạnh, đức tính cần cù và chăm chỉ phi thường của người dân, khát vọng mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân và con cái, cũng như mong muốn góp sức cho đất nước ngày càng lớn mạnh. Khoảng thời gian ở Việt Nam cũng cho Đại sứ cảm nhận rõ mối liên hệ mật thiết của người Việt Nam với tổ tiên, lịch sử và truyền thống. Trong khi, sự thân thiện, chân thành, tin tưởng, sự đáp lại và sẵn lòng giúp đỡ người khác cũng rất đáng ngưỡng mộ.
Không chỉ thế, theo Đại sứ, cơ sở để Việt Nam quyết tâm vươn mình, là những lợi thế từ vị trí địa lý và đường bờ biển dài, giúp phát triển các mối quan hệ thương mại và thu hút du khách. Khí hậu ấm áp, ôn hòa tạo thuận lợi thu hoạch nhiều vụ rau quả quanh năm. Các lợi thế khác cũng gồm nguồn nguyên liệu và cơ sở công nghiệp phát triển tốt, mạng lưới cơ sở hạ tầng, đường sắt, đường bộ, cầu cống liên tục được cải thiện.
Bên cạnh đó, an ninh năng lượng cũng được bảo đảm, nhờ các nhà máy điện làm việc hiệu quả. Pháp luật và điều kiện kinh doanh trong nước cho phép thu hút ngày càng nhiều đầu tư nước ngoài. Chính sách đối ngoại cân bằng và linh hoạt giúp Việt Nam liên tục mở rộng vòng tròn đối tác chiến lược, củng cố vị thế và nâng cao vai trò, uy tín trong khu vực và trên toàn cầu, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế-xã hội.
Cần bao lâu để yêu một chốn không phải là quê hương?
Đó là câu hỏi thứ hai tôi quên hỏi Đại sứ.
Trở lại hơn 40 năm về trước, sự tiếp xúc với những người Việt Nam đến Belarus làm việc trong nhà máy địa phương đã cho Đại sứ, lúc đó còn là một cậu bé, những mường tượng đầu tiên về đất nước Việt Nam xa xôi. Thời gian trôi, những gia đình người Việt ở Belarus trở về quê hương, hoặc chuyển đi nơi khác. Khi số lượng người Việt ở Belarus không còn nhiều như trước, những hiểu biết của người dân hai nước về nhau cũng hạn chế hơn. Nhưng, không vì thế mà người dân Belarus thôi dành cho người Việt Nam những tình cảm tích cực. Chỉ có điều, một bộ phận người Belarus hiện nay, nhất là giới trẻ, có quá ít hiểu biết về Việt Nam.
“Khoảng trống hiểu biết” đó thôi thúc Đại sứ tập trung vào các dự án quảng bá đất nước, con người hai bên đến nhau, như triển lãm, chiếu phim, giao lưu văn hóa… Để gìn giữ lịch sử, hai nước chú trọng trao đổi những “giá trị ký ức”, nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc. Như một hũ đất từ chiến trường Điện Biên Phủ được lưu giữ tại Khu tưởng niệm Anh hùng Pháo đài Brest ở Belarus, hay một ít đất từ làng Sơn Mỹ được trưng bày tại Khu tưởng niệm Khatyn…
Trong những khoảng thời gian bận rộn, Đại sứ Uladzimir Baravikou không bao giờ bỏ lỡ cơ hội đắm mình trong nền văn hóa phong phú của Việt Nam, tìm hiểu truyền thống và thưởng thức những món ngon đặc sắc. Từ những trải nghiệm đó, Đại sứ rút ra một điều: Với những người đã từng đến đây ít nhất một lần, nhất là trong 10 năm qua, khó mà quên được Việt Nam - một điểm đến hấp dẫn và thoải mái. Việc mở đường bay thẳng giữa Việt Nam và Belarus đã kéo hai dân tộc ngày càng xích lại gần nhau hơn.
Năm 2025 vừa qua đánh dấu một năm vô cùng ý nghĩa trong quan hệ Việt Nam-Belarus. Một trong những sự kiện quan trọng nhất là chuyến thăm Minsk của Tổng Bí thư Tô Lâm, vào tháng 5/2025. Nhân chuyến thăm, hai nước đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược, mở ra những chân trời mới cho hợp tác.
Trên cương vị người đứng đầu cơ quan ngoại giao Belarus tại Việt Nam, Đại sứ Uladzimir Baravikou rất hạnh phúc với thỏa thuận liên chính phủ hai nước về bãi bỏ thị thực cho người mang hộ chiếu phổ thông có hiệu lực từ ngày 30/1/2025. Sự kiện khai trương đường bay thẳng đầu tiên từ Belarus tới Phú Quốc (Việt Nam) hồi tháng 10/2025 là kết quả của những quyết tâm của lãnh đạo và người dân hai nước thời gian qua.
“Bạn sẽ cảm thấy bình yên và an toàn ở Việt Nam”. Đó không phải phản hồi của Đại sứ về đề nghị phát biểu một câu, kiểu như để quảng bá du lịch Việt Nam. Đó chỉ là câu trả lời khi được hỏi - Ông cảm thấy thế nào khi sinh sống và làm việc ở Việt Nam?
Đại sứ chia sẻ: “Dù đôi khi ở đâu đó Việt Nam có vẻ hỗn loạn, như giao thông chẳng hạn, nhưng càng dành nhiều thời gian ở đây, bạn càng nhận ra rằng, mọi người sống và hành động theo những quy tắc nghiêm ngặt, đôi khi không được viết ra, nhưng ăn sâu vào tiềm thức. Điều quan trọng là phải nhạy cảm, bằng trực giác, để hiểu họ và chấp nhận họ như vốn là”. Đại sứ nhấn mạnh, điều này cần thời gian và kinh nghiệm sống ở đây.
Trong thời đại toàn cầu hóa đang dần xóa nhòa những khác biệt giữa các quốc gia, việc bảo tồn vẻ đẹp, sự độc đáo và không thể bắt chước của Việt Nam, từ thiên nhiên, văn hóa, truyền thống, ẩm thực là vô cùng quan trọng. Xét cho cùng, đó chính là lý do du khách tò mò và tìm đến Việt Nam.
Để chuyến đi của du khách tới Việt Nam được trọn vẹn, và để kỳ nghỉ ngày càng thoải mái và thú vị hơn, Đại sứ cho rằng, cần liên tục nâng cao chất lượng dịch vụ, không chỉ ở các thành phố lớn, mà còn ở các tỉnh, cùng phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Việc hoàn thiện hơn nữa chính sách visa và tăng cường các chuyến bay thẳng với các nước khác, cũng sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng khách du lịch... Việt Nam có đầy đủ cơ hội và tiềm năng để trở thành một trong những quốc gia hấp dẫn và thoải mái nhất cho du khách.
Đúng là có hai câu tôi quên hỏi Đại sứ. Nhưng từ những gì Đại sứ chia sẻ về Việt Nam sau gần bốn năm sinh sống và làm việc, tôi cũng tự có cho mình câu trả lời. Đột nhiên, tôi nhận ra rằng, tôi cũng quên hỏi ông có yêu Việt Nam không? Chỉ nhớ rằng, Đại sứ thừa nhận, có những thứ sẽ giữ Việt Nam trong trái tim và ký ức của ông suốt đời.
Với những người nước ngoài sống đủ lâu ở Việt Nam, câu hỏi “điều gì ấn tượng nhất” đôi khi lại là câu hỏi khó nhất. Thừa nhận bản thân cũng không ngoại lệ, Đại sứ chỉ “xin” nói về những cảm nhận và quan sát mà ông có trong bốn năm qua.