Những gợi mở và thử nghiệm
Một làn điệu dân ca, hình thức diễn xướng, bộ môn nghệ thuật sân khấu truyền thống... được ra đời trong bối cảnh xã hội đã rất xa lạ với thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay. Để các em hát được đúng lời, luyến láy đúng điệu đã không đơn giản. Để các em có thể cảm nhận, hiểu hoàn cảnh xã hội và tâm hồn, lý lẽ của người xưa khi sáng tác nên khúc hát ấy mà thấm nhuần nó hơn, có lẽ càng khó khăn đối với một giáo viên dạy chuyên môn âm nhạc. Chưa kể hiện nay, người trẻ có vô số lựa chọn giải trí với các loại hình nghệ thuật gần gũi với họ hơn sau khi rời lớp học. Việc học “gạo” một khúc hát dân ca trên lớp trong giới hạn thời lượng sẽ khó mà giúp nuôi dưỡng cảm xúc của học sinh dành cho chính khúc hát ấy, cũng như rộng hơn là dành cho các loại hình nghệ thuật sân khấu, diễn xướng âm nhạc truyền thống. Thiếu cảm xúc với nghệ thuật, kiến thức được dạy sẽ khó lưu lại.
Giữa thực tế này, nhiều nhà giáo đã chủ động đề xuất các nghiên cứu, thể nghiệm ban đầu của phương pháp liên môn, liên ngành trong đào tạo nghệ thuật, nhất là những bài học, học phần liên quan nghệ thuật truyền thống, bao gồm cả âm nhạc, mỹ thuật.
Không gian nguyên thủy của hát nhà tơ-hát, múa cửa đình ở xã Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh (được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2015) chỉ diễn ra tại các đình làng trong ngày hội đầu xuân, mang đậm yếu tố tâm linh. Chính vì vậy, để có thể giúp học sinh ngày nay cảm nhận và hiểu được, dẫu chỉ một cách khái lược nhất, về giá trị của loại hình diễn xướng này, chỉ với chuyên môn dạy hát, dạy múa thông thường sẽ là không đủ. Theo hai giảng viên Trần Vũ Lâm và Đặng Thị Thu Hiền, Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Hạ Long, để khắc phục sự đơn điệu trong dạy học nghệ thuật đơn ngành, thúc đẩy năng lực sáng tạo và bồi đắp ý thức bảo tồn di sản văn hóa cho thế hệ trẻ, có thể áp dụng hướng tiếp cận liên ngành trong việc đưa hát nhà tơ-hát, múa cửa đình vào không gian trường học phổ thông. Từ nghiên cứu lý thuyết kết hợp điền dã thực địa, các tác giả đề xuất hệ thống ba giải pháp cốt lõi, bao gồm: Thiết kế tiến trình bài học tích hợp liên môn (Âm nhạc, Ngữ văn, Lịch sử...); áp dụng mô hình học tập qua trải nghiệm thực tế tại di tích và xây dựng mô hình “Nghệ nhân học đường” kết hợp câu lạc bộ di sản học đường.
Được biết, hiện nay, tại xã Đầm Hà, có hai câu lạc bộ Hát nhà tơ-hát, múa cửa đình; một của người lớn và một dành cho thiếu niên, nhi đồng của xã trên cơ sở Câu lạc bộ Hát nhà tơ trong trường học của xã, thành lập trong tháng 3/2024 với 50 thành viên ban đầu.
Không phải là không có những thách thức từ chính thực tiễn về năng lực liên môn của giáo viên, quỹ thời gian theo thời khóa biểu và mức độ thu hút sự quan tâm của học sinh dành cho nghệ thuật truyền thống. Nhưng hướng đề xuất phương thức giáo dục mang tính liên ngành này có ý nghĩa gợi mở, khuyến khích tinh thần đổi mới việc dạy và học nghệ thuật trong nhà trường, nhằm từng bước xây dựng năng lực cảm thụ và tình yêu lâu bền dành cho nghệ thuật truyền thống dân tộc trong thế hệ trẻ.
Trong giáo dục nghệ thuật ở bậc đại học hiện nay, bao gồm cả ngành sư phạm nghệ thuật-nơi đào tạo giáo viên các bộ môn nghệ thuật tương lai, việc kết nối liên ngành và tích hợp, ứng dụng công nghệ số, chuyển hướng đào tạo theo dự án thay vì mô hình môn học đơn lẻ cũng đã và đang được nhiều giảng viên lựa chọn, thử nghiệm và cùng sinh viên hoàn thiện dần về phương pháp luận.
Thạc sĩ Bùi Thị Nam, giảng viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương nhận định: Việc đổi mới giáo dục nghệ thuật theo hướng tích hợp và liên ngành tác động vào quá trình hình thành, phát triển ý tưởng của người học, nhấn mạnh vai trò của phản biện giữa giáo viên/giảng viên và người học cũng như khả năng phản tư của chính người học; từ đó, thúc đẩy quá trình nhận hiểu và sáng tạo nghệ thuật. Sự đổi mới này đồng thời tạo nền tảng để sinh viên ngành Sư phạm nghệ thuật tiếp tục đổi mới phương thức học tập.
Nâng cao năng lực công nghệ, kỹ năng chuyển đổi số cho giáo viên
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đặt ra những yêu cầu chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực toàn diện cho học sinh. Thí dụ như với môn Âm nhạc, yêu cầu cốt lõi là các năng lực thể hiện, cảm thụ và hiểu biết âm nhạc, kể cả ứng dụng và sáng tạo âm nhạc; ở cấp trung học phổ thông, một số phân môn lựa chọn định hướng nghề nghiệp, như Dàn dựng âm nhạc và Công nghệ âm nhạc, lần đầu được đưa vào giảng dạy chính thức.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Điệp, giảng viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, thực tế nói trên đòi hỏi sinh viên chuyên ngành Thanh nhạc Sư phạm, những giáo viên âm nhạc tương lai, không chỉ sở hữu kỹ thuật ca hát điêu luyện mà phải có năng lực biên soạn, dàn dựng và ứng dụng công nghệ số như một công cụ hỗ trợ dạy học và kích thích sáng tạo học đường. Vì vậy, môi trường đại học cũng cần có giải pháp đào tạo đồng bộ từ đổi mới quy trình dạy học, xây dựng phòng thực hành tinh gọn, đến tích hợp nội dung đạo đức số và bản quyền âm nhạc, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực sư phạm âm nhạc thời kỳ chuyển đổi số.
Chia sẻ với quan điểm của Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Điệp, được nêu tại Hội thảo quốc gia về Đổi mới giáo dục nghệ thuật ở Việt Nam, do Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức, tháng 8/2026, Đại tá, nhạc sĩ Nguyễn Mai Kiên, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội đồng thời đề xuất mô hình hoạt động học tập tích hợp trí tuệ nhân tạo nhằm phát triển năng lực sáng tạo âm nhạc cho sinh viên sư phạm âm nhạc. Theo ông Kiên, mô hình này giúp sinh viên khai thác trí tuệ nhân tạo như một công cụ hỗ trợ sáng tạo, phát triển năng lực nghề nghiệp và chuyển hóa kết quả học tập thành hoạt động dạy học. Mô hình góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên âm nhạc trong bối cảnh chuyển đổi số.
Đặc biệt mới đây, một nhóm sinh viên khi đang theo học năm thứ ba, ngành Sư phạm âm nhạc tại Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, đã thử nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo xây dựng học liệu điện tử nhằm cá nhân hóa việc học môn Âm nhạc của học sinh lớp 6 tại một trường phổ thông ở Hà Nội. Kết quả ban đầu cho thấy, học sinh tiến bộ rõ rệt về kỹ năng âm nhạc và tăng cường hứng thú học tập một cách đáng kể. Điều đáng vui mừng là các giáo viên tương lai này đã chủ động khắc phục hạn chế về điều kiện hạ tầng công nghệ bằng cách phối hợp đồng bộ nhiều công cụ trí tuệ nhân tạo phù hợp để thiết kế học liệu. Việc đề cao yếu tố cá nhân hóa còn là chỉ dấu cho thấy nhận thức sâu sắc của các bạn sinh viên về phương pháp giáo dục nghệ thuật hiện đại, chú trọng vào năng lực cảm thụ nghệ thuật của từng học sinh thay vì truyền dạy kiến thức một cách đại trà, khuôn mẫu.
Để thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ thông năm học 2026-2027, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn số 5208/BGDĐT-GDPT nêu rõ yêu cầu tăng cường giáo dục nghệ thuật: Tổ chức đa dạng hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài giờ học thông qua môn học, hoạt động giáo dục, câu lạc bộ, sân chơi và trải nghiệm phù hợp với điều kiện thực tế; khuyến khích học sinh sáng tạo, biểu diễn, cảm thụ nghệ thuật; giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống, bản sắc dân tộc và địa phương; tiếp cận có chọn lọc nghệ thuật đương đại phù hợp với lứa tuổi.
Đây là tiền đề để các cơ sở giáo dục tiếp tục mạnh dạn khuyến khích, tạo điều kiện để giáo viên và học sinh đổi mới phương thức dạy và học nghệ thuật, từng bước kiến tạo một hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại, mở rộng học đường thành không gian văn hóa, thúc đẩy sự sáng tạo trong dạy và học các môn học khác.
Trong thực tế, nhiều giáo viên phổ thông đã chủ động ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy nghệ thuật, tạo sức hấp dẫn cho học sinh. Bên cạnh việc số hóa bài giảng với nhiều hình ảnh phong phú để trình chiếu trước học sinh, giáo viên còn chủ động thiết kế các không gian ảo 3D mô phỏng không gian văn hóa nơi sinh ra các làn điệu dân ca, diễn xướng dân gian hoặc mô phỏng các di tích mỹ thuật cổ để học sinh cảm nhận rõ nét hơn về ý nghĩa và giá trị của các nội dung nghệ thuật truyền thống.