Trong dòng chảy ấy, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Nghị quyết số 80-NQ/ TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội cùng khẳng định một tư tưởng lớn: Muốn đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn, văn hóa và con người phải thật sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh và động lực của phát triển.
Quyền làm chủ vận mệnh và năng lực làm chủ tương lai
Mỗi dịp Quốc khánh 2/9, trong tâm thức người Việt Nam lại vang lên những lời bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình năm 1945. Đó không chỉ là tuyên bố khai sinh một Nhà nước mới, mà sâu xa hơn là lời khẳng định: Một dân tộc đã giành lại quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Từ khoảnh khắc lịch sử ấy, “Độc lập” trở thành điều kiện tiên quyết để Nhân dân được sống trong “Tự do”, đất nước được kiến thiết theo con đường mình lựa chọn và các thế hệ người Việt Nam có trách nhiệm làm cho nền độc lập ấy ngày càng có nội dung phong phú hơn.
81 năm đã đi qua. Việt Nam hôm nay đã khác rất xa một đất nước vừa bước ra khỏi chế độ thuộc địa. Qua chiến tranh, kiến thiết và gần bốn thập niên đổi mới, thế và lực của đất nước đã được nâng lên rõ rệt. Nhưng lịch sử luôn đặt ra những câu hỏi mới. Nếu thế hệ cha anh phải trả lời câu hỏi làm thế nào giành và giữ độc lập, thì thế hệ hôm nay phải trả lời: Làm thế nào để một đất nước độc lập phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, tự chủ hơn và có năng lực tạo ra tương lai của chính mình?
Chính trong ý nghĩa đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam mang một ý nghĩa đặc biệt. Đây không chỉ là câu chuyện điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế, mà là yêu cầu đổi mới cách đất nước tạo ra, huy động, phân bổ và thụ hưởng các nguồn lực phát triển; đổi mới đồng bộ kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và quản trị quốc gia. Nghị quyết hướng tới mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập - một mô hình trong đó sức mạnh quốc gia không chỉ đến từ vốn, tài nguyên hay quy mô thị trường, mà ngày càng đến từ chất lượng thể chế, khoa học công nghệ, năng lực sáng tạo và chất lượng con người.
Khi đặt vấn đề về mô hình phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xây dựng “năng lực tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia”. Đây là một cách diễn đạt rất sâu sắc về nội hàm mới của độc lập trong thế kỷ XXI. Một quốc gia có chủ quyền nhưng phụ thuộc quá lớn vào công nghệ cốt lõi, dữ liệu, chuỗi cung ứng hay nguồn nhân lực từ bên ngoài vẫn có thể dễ bị tổn thương. Tự chủ hôm nay không phải khép cửa, mà là hội nhập sâu rộng nhưng có khả năng lựa chọn; hợp tác rộng mở nhưng có năng lực đứng vững; tiếp nhận tri thức của nhân loại nhưng đồng thời có khả năng sản sinh tri thức, sản phẩm và giá trị của chính mình.
Trong năng lực tự chủ ấy, văn hóa giữ một vị trí không thể thay thế. Một dân tộc chỉ thật sự tự tin hội nhập khi biết mình là ai và có những giá trị gì để đóng góp cho nhân loại. Máy móc, vốn hay công nghệ có thể nhập khẩu, nhưng căn cốt văn hóa, lòng yêu nước, niềm tin xã hội và khát vọng quốc gia phải được bồi đắp từ bên trong. Cha ông đã giành cho chúng ta quyền làm chủ vận mệnh; trách nhiệm hôm nay là xây dựng năng lực để thực hiện quyền ấy hiệu quả trong một thế giới cạnh tranh và biến động.
Từ Ba Đình mùa Thu năm 1945 đến Việt Nam của năm 2026 là hành trình một dân tộc không ngừng mở rộng nội hàm của khái niệm “độc lập”: Độc lập để tự quyết định con đường đi; độc lập để người dân thật sự làm chủ; độc lập để sáng tạo; độc lập để hội nhập với tâm thế tự tin; và cao hơn hết, độc lập để mỗi thế hệ người Việt Nam có cơ hội xây dựng một đất nước tốt đẹp hơn thế hệ trước.
Khi văn hóa đi vào trung tâm của mô hình phát triển
Nếu Nghị quyết 19 đặt ra khung đổi mới tổng thể mô hình phát triển quốc gia, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam làm rõ một trụ cột đặc biệt của mô hình ấy: Văn hóa và con người.
Điểm mới quan trọng của Nghị quyết 80 không chỉ nằm ở việc tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Nghị quyết đặt văn hóa trong quan hệ trực tiếp hơn với phát triển, coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực của phát triển nhanh, bền vững; đồng thời đặt con người vào vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực quan trọng nhất. Văn hóa vì thế không còn được nhìn chủ yếu như lĩnh vực cần bảo tồn, đầu tư và thụ hưởng, mà ngày càng được nhìn như một năng lực tạo ra giá trị, một nguồn vốn xã hội, một yếu tố của năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia.
Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu: Từng bước chuyển mạnh tư duy từ “quản lý văn hóa” sang “kiến tạo phát triển”. Đây là một thông điệp có tính định hướng rất lớn. Quản lý vẫn cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở quản lý thì rất khó đánh thức đầy đủ nguồn lực văn hóa. Kiến tạo phát triển có nghĩa là Nhà nước không chỉ bảo vệ di sản, cấp phép hay kiểm tra hoạt động văn hóa, mà còn phải tạo môi trường để nghệ sĩ sáng tạo, để doanh nghiệp văn hóa lớn lên, để di sản có đời sống mới, để cộng đồng trở thành chủ thể và để những sản phẩm mang bản sắc Việt Nam bước ra thị trường.
Tư duy ấy cũng cho thấy quan hệ trực tiếp giữa văn hóa với các động lực phát triển mới. Kinh tế sáng tạo cần văn hóa tôn trọng sáng tạo; năng suất cao cần trách nhiệm, kỷ luật và chuyên nghiệp; kinh tế số cần năng lực số và đạo đức số; thương hiệu mạnh cần trung thực, chữ tín và trách nhiệm xã hội. Công nghệ có thể tạo ra tốc độ, nhưng văn hóa giúp định hướng tốc độ ấy đi về phía con người.
Nguồn lực quốc gia, vì thế, phải được hiểu rộng hơn. Ngoài ngân sách, đất đai, hạ tầng hay tài nguyên, còn là tri thức của trí thức, sức sáng tạo của nghệ sĩ, tinh thần khởi nghiệp của người trẻ, sự gắn kết cộng đồng, di sản và niềm tin xã hội. Đó là phần vốn văn hóa và vốn xã hội rất lớn mà Việt Nam đã tích lũy qua lịch sử.
Đặc biệt, Nghị quyết 80 tạo nền tảng để nhìn công nghiệp văn hóa như một cách chuyển hóa bản sắc thành giá trị. Làn điệu dân gian có thể đi vào âm nhạc mới; họa tiết truyền thống bước vào thiết kế; câu chuyện lịch sử trở thành điện ảnh, hoạt hình hay trò chơi số; làng nghề trở thành không gian sáng tạo; di sản tạo sinh kế khi được kết nối đúng với du lịch, công nghệ và thị trường. Khi đó, bảo tồn làm cho sáng tạo có căn cốt, còn sáng tạo làm cho di sản tiếp tục sống. Đó là con đường để văn hóa trở thành một phần hữu cơ của mô hình phát triển mới.
Từ chủ trương đến cơ chế để văn hóa thật sự trở thành nguồn lực
Một chủ trương lớn chỉ thật sự tạo ra thay đổi khi được thể chế hóa thành những cơ chế đủ mạnh và được tổ chức thực hiện hiệu quả. Chính vì vậy, việc Quốc hội thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, là một bước rất quan trọng để đưa tinh thần Nghị quyết 80 đi vào cuộc sống.
Ý nghĩa nổi bật của Nghị quyết số 28 nằm ở chỗ nhiều yêu cầu lâu nay của lĩnh vực văn hóa bắt đầu được chuyển thành những cơ chế, chính sách cụ thể và có tính đột phá hơn. Từ bảo tồn di sản, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, nguồn nhân lực, hỗ trợ văn nghệ sĩ, hạ tầng văn hóa số đến thúc đẩy công nghiệp văn hóa, hình thành Quỹ văn hóa nghệ thuật, thu hút nguồn lực xã hội và phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số - tất cả đều hướng tới tháo gỡ một điểm nghẽn: Việt Nam có rất nhiều tiềm năng văn hóa, nhưng cơ chế để biến tiềm năng thành nguồn lực chưa tương xứng.
Điều quan trọng bây giờ là làm cho những chính sách ấy tạo nên những kết quả cụ thể trong đời sống. Quỹ văn hóa nghệ thuật phải thật sự hỗ trợ sáng tạo; hạ tầng văn hóa số phải giúp di sản, dữ liệu và sản phẩm văn hóa được tiếp cận thuận lợi, bảo vệ bản quyền và khai thác có trách nhiệm; chính sách công nghiệp văn hóa phải tạo thêm doanh nghiệp, việc làm sáng tạo, thương hiệu Việt Nam và khả năng xuất khẩu sản phẩm văn hóa; còn chính sách với vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải giúp cộng đồng vừa giữ bản sắc, vừa tạo sinh kế bền vững. Bởi cuối cùng, văn hóa phát triển là để hình thành những con người tốt hơn, một xã hội nhân văn hơn và một quốc gia có sức mạnh bền vững hơn.
Một quốc gia phát triển không thể chỉ được mô tả bằng tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Người dân còn quan tâm đến thu nhập, giáo dục, y tế, môi trường sống, sự an toàn và việc họ có được sống trong một xã hội tử tế, nhân ái, giàu cơ hội hay không. Bởi vậy, chữ “nhân văn” trong mô hình phát triển mới có ý nghĩa rất sâu sắc.
Nghị quyết số 19, Nghị quyết số 80 và Nghị quyết số 28 đang mở ra cơ hội để văn hóa không còn đứng bên cạnh phát triển, mà trở thành một phần cấu thành của chính quá trình phát triển. Khi thể chế giải phóng sức sáng tạo, giá trị văn hóa được chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế và sức mạnh mềm, nghệ sĩ được tôn trọng, doanh nghiệp được tạo điều kiện và cộng đồng được trao quyền, đất nước sẽ có thêm một nguồn năng lượng lớn để đi xa.
Bởi, sức mạnh của một dân tộc cuối cùng không chỉ được đo bằng những gì dân tộc ấy sở hữu, mà còn bằng những giá trị mà dân tộc ấy tin tưởng, những con người mà dân tộc ấy tạo ra và tương lai mà dân tộc ấy đủ bản lĩnh để kiến tạo. Đó cũng chính là thông điệp đẹp nhất của ngày Quốc khánh hôm nay: Từ nền độc lập mà cha ông đã giành được, bằng sức mạnh của văn hóa, trí tuệ và khát vọng Việt Nam, chúng ta có thể xây dựng một đất nước không chỉ giàu mạnh hơn, mà còn nhân văn hơn, có bản sắc hơn và đủ tự tin để đóng góp những giá trị của mình cho thế giới.