Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh
Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Khi tem truy xuất nguồn gốc chỉ để... tham khảo!

Hà Nội hiện có khoảng hơn 33.000 ha chuyên canh rau, củ, với sản lượng ước khoảng 735.000 tấn mỗi năm, đáp ứng được 60% nhu cầu người tiêu dùng. Dù đã sớm đặt trọng tâm và triển khai các cơ chế, chính sách, song Hà Nội cũng mới chỉ có được hơn 400 ha diện tích, khu vực vùng trồng rau an toàn.

Điều đáng bàn là ngay ở giữa Thủ đô, chỉ bằng một vài thủ đoạn “phù phép” đơn giản, không ít doanh nghiệp đã có thể ngang nhiên đưa các loại rau thu gom trôi nổi trà trộn với rau có nguồn gốc rõ ràng, dán tem mác an toàn, đưa vào trường học, siêu thị dưới mác “rau sạch”, làm gia tăng nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm.

Về vấn đề này, ông Tạ Văn Tường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết, thành phố có Quyết định phân cấp quản lý an toàn thực phẩm dựa theo nguyên tắc cấp nào đăng ký kinh doanh thì cấp đấy sẽ quản lý trực tiếp. Trong công tác quản lý chất lượng thực phẩm, cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những lỗ hổng để một số doanh nghiệp gian lận.

Hiện ngành nông nghiệp Thủ đô cũng đã triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc. Theo thống kê, đã có hơn 3.000 doanh nghiệp và 11.000 sản phẩm được đưa lên hệ thống truy xuất phục vụ công tác quản lý về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, theo các quy định pháp lý hiện hành, việc truy xuất mới chỉ dừng lại ở ghi chép và hồ sơ. Còn về hệ thống tem, cũng mới dừng lại ở khuyến khích nông dân và doanh nghiệp áp dụng, và hiện cũng chỉ tập trung vào nhóm nông dân sản xuất đến thu gom và sơ chế.

Theo ông Nguyễn Thành Trung, Phó Trưởng phòng Chất lượng và Phát triển thị trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, nguyên nhân vẫn do sản xuất còn nhỏ lẻ, nhận thức của người dân khi ghi chép và doanh nghiệp khi thực hiện ghi chép còn chưa đầy đủ.

Từng là đơn vị từng tiên phong trong việc áp dụng tem truy xuất nguồn gốc theo công nghệ Nhật Bản, được cập nhật hằng ngày, tuy nhiên, do chi phí lớn khiến sản phẩm khó cạnh tranh, Hợp tác xã Rau quả sạch Chúc Sơn phải ngậm ngùi dừng hợp tác với siêu thị. Tương tự, với kênh trường học, “việc thực hiện truy xuất nguồn gốc cũng rất khó triển khai vì thỏa thuận hợp đồng có kỳ hạn ngắn”, ông Hoàng Văn Thám, đại diện Hợp tác xã Rau quả sạch Chúc Sơn chia sẻ.

Dẫn lại vụ việc của cơ sở Liên Anh - đơn vị từng cung cấp rau không rõ nguồn gốc cho nhiều trường học tại Thủ đô hồi năm 2025, bà Trần Thị Dung, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam thẳng thắn: “Trước khi vụ việc vỡ lở, dường như chẳng ai kiểm tra, hoặc có kiểm tra thì chỉ làm qua loa, xong rồi lại để mặc đó. Tình trạng này vẫn diễn ra, và chắc chắn sẽ còn tiếp diễn nếu không thay đổi, và nếu tem truy xuất nguồn gốc chỉ để... tham khảo”.

Cần giải pháp đồng bộ và tăng chế tài xử lý nghiêm minh

Với quan điểm “Tất cả sản phẩm đưa ra ngoài tiêu thụ phải có nhãn mác và truy xuất được nguồn gốc”, bà Trần Thị Dung cho rằng: “Hà Nội phải làm mẫu. Đòi hỏi truy xuất nguồn gốc ngay lập tức bằng công nghệ số thì khó, nhưng cần triển khai từng bước. Ban đầu, có thể cần chính sách hỗ trợ để bù chi phí giám sát, hỗ trợ ghi chép minh bạch, có thể bằng ngân sách nhà nước. Khi có hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn và đội ngũ nhân lực chuẩn, không riêng gì Hà Nội, chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát được vấn đề này”.

Ở góc độ pháp lý, luật sư Chu Quỳnh Vương (Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội) cho hay: “Vấn đề vi phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rau, củ nói riêng, thực phẩm nói chung đã quy định rất rõ trong Luật An toàn thực phẩm. Khi doanh nghiệp gian lận nguồn gốc rau xanh, thực phẩm thì sẽ bị xử phạt hành chính hoặc hình sự tùy thuộc vào mức độ và hậu quả gây ra, với các hình thức như phạt tiền, tịch thu tang vật, tiêu hủy hàng hóa, buộc khắc phục hậu quả, và trong trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm có thể bị phạt tù”.

Đặc biệt, theo luật sư Vương, không nhất thiết phải chờ đến khi gây ra hậu quả nghiêm trọng mới xử lý, bởi hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc đã là vi phạm pháp luật. Hậu quả xảy ra sẽ là tình tiết tăng nặng, có thể làm tăng mức độ xử phạt, có thể chuyển từ xử lý hành chính sang xử lý hình sự các hành vi vi phạm.

Từ góc độ quản lý nhà nước, ông Tạ Văn Tường cho rằng: Muốn làm triệt để, cần có vùng sản xuất lớn, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp thuê đất và tổ chức sản xuất tập trung thì mới bảo đảm truy xuất nguồn gốc đến tận nơi trồng. Đồng thời, cũng cần có công nghệ quản lý phù hợp, dễ áp dụng với nông dân. Đặc biệt, cần hướng tới việc đưa các trường học trên địa bàn lấy rau của hợp tác xã và giao về cho chính quyền địa phương quản lý, nhằm bảo đảm an toàn cho học sinh và người tiêu dùng. “Đây là một giải pháp rất đồng bộ và bảo đảm yêu cầu về khoa học. Theo đó, từ phía Nhà nước, từ phía doanh nghiệp rồi đến người dân, chúng ta sẽ phấn đấu hướng tới môi trường lý tưởng, khi mà toàn bộ nền sản xuất theo chuỗi giá trị cùng toàn bộ doanh nghiệp thực hiện vì lợi ích lâu dài”, ông Tạ Văn Tường đề xuất.

Ý thức của doanh nghiệp, nông dân là yếu tố then chốt để bảo đảm an toàn thực phẩm. Nhà nước nên hỗ trợ tập huấn, tư vấn, hướng dẫn cho cơ sở sản xuất, trường học, đơn vị sử dụng để họ biết cách nhận diện và giám sát. Nếu doanh nghiệp cố tình gian dối, cơ quan chức năng sẽ xử lý bằng các biện pháp quản lý, kiểm tra bổ sung.

Có thể bạn quan tâm