Sau khi bàn về khí chất, bằng sự đúc kết những trải nghiệm bản thân suốt 30 năm làm báo, G.Phrít-man lần lượt đề cập tới các lĩnh vực tường thuật, viết và nghề nghiệp... Có cảm tưởng tác giả đang tự đối thoại với một thời trẻ của mình, cái thời mà những ước mơ đến háo hức, thậm chí đôi khi hơi to tát và mầu mè; cái thời mà bầu nhiệt huyết nghề nghiệp luôn sục sôi, chấp nhận vấp ngã và thất bại một cách nhẹ nhàng; chỉ có điều, ngoài chút năng khiếu và lòng ham thích, có cái gì đó như luôn thách thức phía trước khiến ngòi bút thường phải dò dẫm kiếm tìm - cái mà giờ đây, khi đọc Thư gửi nhà báo trẻ, có lẽ những người mới vào nghề (nói riêng) cũng đỡ đi một phần nào đó sự dò dẫm để có thêm hành trang kinh nghiệm tiếp sức cho cuộc kiếm tìm những điều mới mẻ hơn không chỉ phía trước, chung quanh mà ngay chính lương tâm và sự thôi thúc nghề nghiệp của mình trong mối đồng cảm khát khao khám phá và khẳng định.
Sa-mu-en G.Phrít-man là cựu nhà báo của tờ New York Times. Ông là chủ nhân của nhiều giải thưởng danh giá, là giáo sư giảng dạy bộ môn báo chí trong suốt 30 năm tại Trường Báo chí Columbia (một trung tâm đào tạo báo chí danh tiếng của Mỹ, nơi đã "sản sinh" ra những nhà báo nổi tiếng thế giới). Có lẽ vì thế mà những tâm sự trong cuốn sách không chỉ có kinh nghiệm mà còn mang trong mình tất cả sự uyên thâm của cuộc đời, đặng gửi tới và chia sẻ với "những con người có học vấn và đầy hoài bão", những con người mà hẳn phải biết rõ "sự nhàm chán sẽ ảnh hưởng đến công việc ra sao".
G.Phrít-man tâm sự: "Nếu như được lựa chọn, tôi vẫn thích viết về những nhân vật bình thường không có tiếng tăm hơn là những người nổi tiếng". Phải chăng từ lựa chọn ấy mà nhiều lần tác giả xáo đi xới lại một nỗi niềm: "Cần làm điều gì để trở thành một nhà báo và việc là một nhà báo có ý nghĩa như thế nào?". Bởi, theo G.Phrít-man, sự ham hiểu biết và đạo đức nghề nghiệp nghiêm khắc có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với khả năng tự nhiên trở nên xuất sắc. Và, như chúng ta vẫn thường nghe đâu đó, "sự tín nhiệm tôi có được xuất phát từ những thất bại chứ chẳng dựa vào sự thành công". Nhưng rõ ràng, có nhiều điều để chúng ta học bằng cách "nhìn ra ngoài cửa sổ hơn là nhìn vào gương"; cũng như có nhiều điều để học bằng cách "lắng nghe người khác hơn là chỉ quan tâm đến bản thân mình". Tất nhiên muốn vậy, người làm báo trước hết phải biết chối bỏ mọi sự hời hợt, và càng hơn thế, chối bỏ sự bịa đặt và giả dối.
Mới hiểu vì sao "khí chất" nhà báo là điều tác giả bàn tới trước tiên. Không e ngại khi nói về nghề báo như một "nghề nghiệp đạo đức", G.Phrít-man chỉ rõ: "Trong sự hỗn loạn và ầm ĩ của một thế giới được số hóa, toàn cầu hóa, trong sự hỗn loạn giữa sự thật khách quan và quan điểm chủ quan, trong ranh giới mập mờ giữa thông tin và giải trí, và trong sự chuyển đổi từ khai trí sang vai trò biện hộ, chúng ta, các nhà báo, chưa bao giờ có vai trò thiết yếu như thế". Với quan niệm: "Có lương tâm và có phẩm hạnh đạo đức không hoàn toàn giống nhau", G.Phrít-man cho rằng: "Thách thức với bạn là phải học và làm chủ điều bạn không biết chứ không phải tự che giấu đi vẻ ngoài dốt nát của mình. Người linh hoạt khác với người dễ dãi, và người được gọi là "học nhanh" sẽ bị chỉ trích chê bai. Cần phải có thời gian để thành thạo chuyên môn. Cần có thời gian để hiểu sự thật sâu kín trong tâm hồn của mỗi con người...".
Ðưa ra câu chuyện về hai bức ảnh đoạt giải Pulitzer - một của phóng viên ảnh Ních-Út (Nick Ut), hãng thông tấn Associated Press và một của nhà báo tự do Kê-vin Các-tơ (Kevin Carter), người đọc càng thấy rõ hơn thái độ và cũng là thông điệp của tác giả: Nhà báo là nhân đạo. Nhiều người trong chúng ta hẳn còn nhớ rất rõ bức ảnh một cô bé ở trần vừa chạy vừa la khóc kinh hoàng dưới rừng bom na-pan của quân đội Mỹ tại Việt Nam. Hình ảnh đau thương của cô bé đã góp phần không nhỏ làm gia tăng dư luận phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam ngày ấy. Nhưng không nhiều người biết rằng sau khi chụp ảnh cô bé Phan Thị Kim Phúc, Ních-Út đã đưa cô lên chiếc xe buýt nhỏ, yêu cầu chở đến bệnh viện và xin bác sĩ cứu chữa cho cô ngay lập tức. Chỉ sau khi Kim Phúc được đưa lên bàn phẫu thuật, phóng viên Út mới về cơ quan AP để nộp cuộn phim anh đã chụp.
Còn bức ảnh của Các-tơ chụp về nạn đói ở Xu-đăng năm 1993 - một em bé đang chập chững bước thì bị lả người đi khi cố gắng lết tới trạm phân phát lương thực. Trong khi đó ở phía sau, một con kền kền cũng đang chờ sẵn. Bức ảnh cũng làm dấy lên làn sóng công luận mạnh mẽ, dẫn đến việc Tổng thống Bin Clin-tơn phải đưa quân đội Mỹ đến thực hiện sứ mệnh nhân đạo tại những vùng này. Song có một điều khác biệt rất lớn giữa Ních-Út và Kê-vin Các-tơ là phóng viên tự do này đã không can thiệp để cứu đứa bé trong bức ảnh. Và Các-tơ đã được các đồng nghiệp "quan tâm" nhiều lần, rằng "anh đã hành động gì với đứa bé?". Kết cục, chưa đến bốn tháng sau khi đoạt giải thưởng Pulitzer, Kê-vin Các-tơ đã tự sát. Vậy đó, nếu hành động cứu Kim Phúc đã khiến Ních-Út "được thanh thản", thì sự dằn vặt dẫn đến cái chết kia phải chăng là Các-tơ "đã đặt phẩm chất nhà báo trong anh cao hơn lòng nhân đạo"?!...
Vẫn biết, chẳng phải chờ đến cuốn "thư gửi..." này, trong chặng đường gian nan của mỗi người làm báo, ai chẳng có những bậc đàn anh luôn quan tâm dìu dắt. Ðể rồi đến lượt mình, những nhà báo trẻ hôm nay sẽ có trách nhiệm với những nhà báo trẻ hơn. Dẫu vậy, vừa là những tâm sự, vừa như tự thanh lọc và hoàn thiện mình khi ngọn lửa nghề nghiệp còn thôi thúc, Thư gửi nhà báo trẻ hàm chứa một ý nghĩa nào đó mà những người làm báo (nói chung) có thể tham khảo và đồng cảm nếu bắt gặp mối chia sẻ sâu sắc và giàu ý nghĩa thực tiễn từ cuốn sách.