Phát huy giá trị văn hóa thành sức mạnh phát triển (kỳ 3)

Kỳ 3: Từ quản lý văn hóa đến kiến tạo phát triển

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là một trong những địa chỉ được chú ý nhờ kết hợp tổ chức sự kiện văn hóa và triển lãm tác phẩm nghệ thuật bên cạnh hoạt động trưng bày hiện vật thường xuyên. Ảnh: HOÀNG HOA
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam là một trong những địa chỉ được chú ý nhờ kết hợp tổ chức sự kiện văn hóa và triển lãm tác phẩm nghệ thuật bên cạnh hoạt động trưng bày hiện vật thường xuyên. Ảnh: HOÀNG HOA

(Tiếp theo và hết)

Hành lang chính sách cho văn hóa đang được mở rộng với nhiều cơ chế mới. Nhưng khoảng cách từ một chính sách tiến bộ đến những chuyển biến trong đời sống phụ thuộc rất lớn vào cách bộ máy tổ chức thực hiện. Bởi vậy, chuyển từ quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển không chỉ là câu chuyện trao thêm quyền hay tăng thêm nguồn lực, mà trước hết là thay đổi cách nghĩ, cách làm, đưa chính sách thật sự đi vào đời sống và trở thành động lực cho những giá trị văn hóa được phát huy.

Giải quyết bài toán liên ngành

Thời gian qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) tổ chức lấy ý kiến rộng rãi đóng góp cho dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Một vấn đề được nhiều chuyên gia đề cập là tính liên ngành của lĩnh vực này. Tư duy chuyển từ quản lý riêng rẽ từng hoạt động sang tiếp cận công nghiệp văn hóa như một chuỗi giá trị kết nối sáng tạo, tài nguyên văn hóa, công nghệ, tài sản trí tuệ và thị trường cũng được đặt ra.

Qua đây phản ánh một vấn đề có tính phổ biến trong thực tiễn quản lý: Nhiều hoạt động văn hóa hôm nay không chỉ thuộc phạm vi của một ngành. Một không gian sáng tạo hình thành từ nhà máy cũ có thể liên quan đến quy hoạch, đất đai, tài sản công, xây dựng, phòng cháy, đầu tư, kinh doanh. Một đoàn phim muốn khai thác bối cảnh tại địa phương bên cạnh giấy phép hoạt động còn cần tính đến các yếu tố như: Giao thông, an ninh, lưu trú, dịch vụ và sự phối hợp của chính quyền sở tại. Một bảo tàng muốn hợp tác với doanh nghiệp phát triển sản phẩm từ dữ liệu hiện vật sẽ cần giải quyết câu hỏi về bản quyền, tài sản công, định giá, thương mại hóa và chia sẻ lợi ích. Mỗi cơ quan có thể đều xử lý đúng phần việc thuộc thẩm quyền của mình, nhưng dự án vẫn vướng mắc ở sự liên thông, phối hợp giữa những cơ quan cùng có thẩm quyền.

Nghị quyết số 18/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục thuộc phạm vi quản lý của Bộ VHTT&DL đã phân cấp 16 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 10 thủ tục và cắt giảm bốn điều kiện sản xuất, kinh doanh, theo nguyên tắc tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng tính chủ động của địa phương và nâng cao hiệu quả quản trị hành chính. Đây là bước cải cách đáng ghi nhận trong bối cảnh phát triển mới. Song giảm thủ tục mới chỉ là bước đầu, điều người dân, nghệ sĩ và doanh nghiệp cần hơn một danh mục thủ tục được rút gọn đó là một đầu mối đủ thẩm quyền, đứng ra kết nối và giải quyết triệt để các vướng mắc.

Bởi vậy, cùng với phân cấp và đơn giản hóa thủ tục, cần thiết kế cơ chế phối hợp. Với những dự án văn hóa, công nghiệp sáng tạo có tính liên ngành cao, có thể xác lập đầu mối điều phối, quy định rõ thời hạn xử lý, trách nhiệm của từng cơ quan và người chịu trách nhiệm đến cùng. Nhà nước kiến tạo không nhất thiết phải làm nhiều việc hơn mà quan trọng là giữ vai trò điều phối, xác định đúng người có thẩm quyền giải quyết và chịu trách nhiệm về kết quả.

Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu tổ chức bộ máy quản trị văn hóa tinh gọn, chuyển từ quản lý sang quản trị, phân cấp, phân quyền rõ ràng, đồng thời khơi thông nguồn lực và giải quyết những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn. Tinh thần ấy đang từng bước được cụ thể hóa qua các cơ chế mới. Nghị định số 282/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 14/7/2026 quy định chi tiết việc thực hiện Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa. Nghị định đặt ra các tiêu chí liên quan đến giá trị di sản, năng lực bảo tồn, khả năng gắn di sản với phát triển kinh tế-xã hội, du lịch, công nghiệp văn hóa, đồng thời yêu cầu bảo vệ yếu tố gốc, cảnh quan và không gian thực hành văn hóa của cộng đồng. Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định phạm vi, địa bàn thực hiện thí điểm khi đáp ứng các điều kiện quy định. Đáng chú ý ở đây là cách phân định vai trò: Trung ương xác lập nguyên tắc và những giới hạn phải bảo vệ; địa phương có thêm không gian lựa chọn cách làm phù hợp với điều kiện riêng và chịu trách nhiệm về lựa chọn ấy.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cũng đưa ra cơ chế “thử nghiệm có kiểm soát” đối với một số công cụ, mô hình mới. Cách tiếp cận này phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Nhà nước tạo một phạm vi thử nghiệm đủ rõ về thời gian, đối tượng, điều kiện và trách nhiệm để thực tiễn trả lời. “Thử nghiệm có kiểm soát” không tạo khoảng trống pháp lý để miễn trừ trách nhiệm, càng không nên trở thành ưu đãi dành riêng cho một vài chủ thể mà cho phép kiểm chứng chính sách với quy mô giới hạn trước khi quyết định mở rộng.

162.jpg
Một cảnh quay trong phim “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ Vua Đinh” thực hiện tại Ninh Bình.

Lấy hiệu quả và chất lượng công việc làm thước đo

Ngày 26/6, Bộ VHTT&DL tổ chức tham vấn Dự thảo Bộ Chỉ số văn hóa quốc gia (V-Culture Index), dự kiến gồm 26 chỉ số thuộc năm nhóm: Chính sách và quản trị; cơ sở hạ tầng và tài nguyên; tiếp cận, thực hành và tham gia; công nghiệp văn hóa và sáng tạo; giá trị, bản sắc và phát triển con người. PGS, TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng, hệ thống thống kê và công cụ đánh giá hiện còn phân tán, chưa phản ánh đầy đủ đóng góp của văn hóa, chưa đáp ứng yêu cầu hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu.

Tại cuộc tham vấn, PGS, TS Nguyễn Thị Phương Châm, Viện trưởng Nghiên cứu Văn hóa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cũng lưu ý một số khái niệm cần được làm rõ để có thể đo lường trong thực tế, chẳng hạn phạm vi của “không gian công cộng phục vụ mục đích văn hóa” hay việc thu thập số liệu về chi tiêu văn hóa của hộ gia đình. Đây chính là thách thức của quản trị bằng dữ liệu. Nếu một địa phương chủ yếu được đánh giá bằng số lượt khách, sức ép tự nhiên sẽ là kéo khách thật đông. Nếu đơn vị nghệ thuật bị đặt nặng vấn đề doanh thu, những loại hình có giá trị lâu dài nhưng thị trường hẹp sẽ dễ rơi vào thế bất lợi. Nếu thiết chế văn hóa được tính bằng số công trình đã xây dựng, có thể vẫn xuất hiện những công trình khang trang nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Bởi vậy, cần đo được những thay đổi mà chính sách tạo ra.

Trong sáu tháng đầu năm 2026, Bộ VHTT&DL đặt yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “quản lý hành chính” sang “quản trị KPI”, lấy hiệu quả và chất lượng công việc làm thước đo, gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Đây là một chuyển động đáng chú ý. Nhưng bước tiếp theo cần làm đó là KPI phải giúp nhận ra giá trị thật sự được tạo ra, chứ không trở thành một lớp báo cáo mới với nhiều bảng biểu hơn. Một bộ máy quản lý tốt có thể bảo đảm mọi việc diễn ra đúng quy trình nhưng một bộ máy kiến tạo phải đánh giá được quy trình ấy có tạo ra kết quả mong muốn hay không; khi thực tiễn thay đổi, quy định nào cần được sửa; khi một mô hình chứng minh được hiệu quả, phải làm gì để không phải là trường hợp ngoại lệ.

Với công nghiệp văn hóa, bên cạnh doanh thu cần nhìn vào tài sản trí tuệ được hình thành, năng lực doanh nghiệp Việt Nam, việc làm, giá trị gia tăng trong nước, sức cạnh tranh và khả năng xuất khẩu. Với thiết chế công, điều đáng quan tâm không chỉ là có bao nhiêu nhà văn hóa, thư viện hay bảo tàng, mà là ai đang sử dụng chúng, tần suất ra sao và nhóm dân cư nào chưa có điều kiện tiếp cận. Với dự án khai thác di sản, lượng khách và nguồn thu phải được đặt bên cạnh mức độ bảo tồn giá trị gốc, sinh kế cộng đồng và sức chịu tải của không gian di sản. Chỉ khi có những dữ liệu ấy, ngân sách mới có căn cứ phân bổ từ nơi hiệu quả thấp sang nơi tạo tác động tốt hơn; cách làm chưa phù hợp mới được điều chỉnh; mô hình mới khả thi có cơ sở để nhân rộng.

Chuyển từ quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển là thay đổi cách bộ máy nhìn nhận vai trò của mình: Từ chủ yếu kiểm soát những gì đang diễn ra sang tạo điều kiện để những giá trị có ích cho xã hội được hình thành và phát triển trong một khuôn khổ minh bạch, có trách nhiệm. Đích đến của kiến tạo là tạo điều kiện thuận lợi cho người làm văn hóa; doanh nghiệp có một môi trường minh bạch để đầu tư dài hạn; địa phương có quyền thử cách làm mới và chịu trách nhiệm về quyết định của mình; cộng đồng được hưởng lợi mà những giá trị cốt lõi không bị đem ra đánh đổi. Khi ấy, thể chế mới thật sự trở thành một phần của năng lực chuyển hóa: Giúp giá trị văn hóa đi được từ di sản, tri thức và sức sáng tạo của con người đến sản phẩm, thị trường, đời sống xã hội và sức hấp dẫn quốc gia. Và đó cũng là điều kiện để nguồn lực văn hóa thật sự trở thành sức mạnh phát triển của đất nước.

Phát huy giá trị văn hóa thành sức mạnh phát triển (kỳ 2)

Phát huy giá trị văn hóa thành sức mạnh phát triển (kỳ 1)