Phát huy giá trị văn hóa thành sức mạnh phát triển (kỳ 2)

Kỳ 2: Làm giàu giá trị từ vốn văn hóa

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Lê Bích bồi dưỡng cho nhân viên Bảo tàng gốm Bát Tràng kỹ năng chụp ảnh quảng bá sản phẩm của làng nghề. Ảnh: HOÀNG HOA
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Lê Bích bồi dưỡng cho nhân viên Bảo tàng gốm Bát Tràng kỹ năng chụp ảnh quảng bá sản phẩm của làng nghề. Ảnh: HOÀNG HOA

Giá trị văn hóa không chỉ được đo bằng niên đại hay số lượng di sản được gìn giữ. Quan trọng là từ những giá trị ấy được phát triển thành ý tưởng, sản phẩm và những trải nghiệm mới trong đời sống hôm nay mà không làm phai nhạt giá trị gốc. Bài toán đặt ra đó là tạo được những kết nối cần thiết giữa di sản, bản sắc với công nghệ, sáng tạo, sản xuất và thị trường, để vốn văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn được bồi đắp, làm giàu thêm qua mỗi giai đoạn phát triển.

Để “vốn” văn hóa không dừng ở tiềm năng

Ngày 30/6/2026, Sở Văn hóa và Thể thao TP Huế đưa lên nền tảng kết nối “ba nhà” một “bài toán”: Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu công nghiệp văn hóa, nền tảng xúc tiến số và kết nối doanh nghiệp. Phần mô tả thực trạng chỉ rõ những hạn chế: Tài nguyên văn hóa phong phú nhưng cách khai thác còn chủ yếu phục vụ bảo tồn và du lịch truyền thống; nhiều sản phẩm thủ công, làng nghề, sản phẩm sáng tạo chưa được đầu tư bài bản về thiết kế, thương hiệu và thị trường; dữ liệu về doanh nghiệp văn hóa, nghệ nhân, không gian sáng tạo, sản phẩm và tài sản trí tuệ còn phân tán. Đây cũng là hạn chế mà nhiều địa phương đang gặp phải. Ngày 15/7, trong buổi làm việc với lãnh đạo thành phố, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu đặt ra yêu cầu Huế phải đi đầu trong thực hiện Nghị quyết số 80, “biến di sản thành tài sản”, chuyển hóa giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ, việc làm và nguồn thu nhưng vẫn bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.

Câu chuyện của Huế gợi mở một vấn đề có tính phổ quát: Muốn một giá trị văn hóa trở thành nguồn lực, trước hết phải hiểu đúng về giá trị ấy, cách thức lưu giữ và khai thác. Tiếp đến là số hóa, sắp xếp và bổ sung thông tin để dữ liệu có thể đọc, hiểu, tìm kiếm và sử dụng. Từ đó mới có thể hình thành học liệu, tư liệu nghiên cứu, chất liệu cho nhiều lĩnh vực khác như thiết kế, điện ảnh, trò chơi, du lịch, nghệ thuật biểu diễn... Đồng thời quyền sở hữu, quyền khai thác và cơ chế chia sẻ lợi ích được làm rõ, các chủ thể sáng tạo mới có cơ sở phát triển ý tưởng thành sản phẩm, tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu và đưa sản phẩm đến thị trường.

Đây không phải là một công thức để thương mại hóa mọi di sản, bởi có những không gian thiêng, tri thức cộng đồng, thực hành tín ngưỡng cần được gìn giữ bằng những giới hạn nghiêm ngặt. Nghị quyết 80 nhấn mạnh yêu cầu đấu tranh, khắc phục khuynh hướng "thương mại hóa", chỉ coi trọng một chiều lợi ích kinh tế mà xem nhẹ các giá trị xã hội và nhân văn. Song song đó, phải chuyển hóa các giá trị di sản và nguồn lực văn hóa thành sức mạnh nội sinh, tài sản sáng tạo và sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vượt qua giới hạn của tư duy lưu trữ hình thức.

Nhiều chuyên gia nhìn nhận, một trong những khâu quyết định hiện nay là dữ liệu. Nghị quyết số 80 đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt trong năm 2026. Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, tiếp tục tạo khuôn khổ để dữ liệu văn hóa được xây dựng và khai thác có hệ thống hơn.

Nhưng số hóa không thể hiểu đơn giản là đưa hiện vật, tài liệu lên máy tính. Một hoa văn cổ dù được chụp rất sắc nét vẫn khó trở thành nguồn tư liệu đáng tin cậy nếu không biết nguồn gốc, xuất xứ, ý nghĩa, kỹ thuật tạo tác, ai có quyền sử dụng. Một làn điệu quan họ cổ được ghi âm cũng chưa thể trở thành học liệu hay chất liệu cho sản phẩm mới nếu thiếu thông tin về nghệ nhân, vùng văn hóa, hoàn cảnh diễn xướng và những quy định liên quan đến khai thác.

Nghị định số 277/2026/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9/7/2026 về hạ tầng văn hóa số yêu cầu dữ liệu văn hóa số, trừ một số trường hợp, phải có thông tin đi kèm như mã định danh, ngữ cảnh văn hóa, ngữ cảnh số hóa, quyền sở hữu trí tuệ và điều kiện chia sẻ, khai thác, sử dụng. Hạ tầng dữ liệu phải có khả năng kết nối, trao đổi tự động, truy xuất nguồn gốc. Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được thiết kế để phục vụ không chỉ quản lý mà cả giáo dục, nghiên cứu, trí tuệ nhân tạo, sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ văn hóa số.

Điểm mới ở đây nằm trong cách nhìn về dữ liệu. Nếu trước kia số hóa thường được coi trước hết là phương tiện lưu giữ, thì nay dữ liệu còn có thể trở thành nguyên liệu cho những giá trị mới. Khi đó, đầu tư cho dữ liệu văn hóa sẽ tạo nền móng để nhiều ngành nghề, lĩnh vực cùng khai thác.

Tuy nhiên, từ đây cũng đặt ra trách nhiệm bảo vệ chủ thể của di sản. GS, TS Từ Thị Loan, Viện trưởng Nghiên cứu văn hóa Thăng Long phân tích, rào cản lớn hiện nay không phải là thiếu di sản hay thiếu tiềm năng sáng tạo, mà là chưa có một hệ thống đủ hoàn chỉnh để đưa di sản thành dữ liệu, dữ liệu thành tri thức, tri thức thành tài sản trí tuệ rồi từ đó phát triển sản phẩm, dịch vụ. Bà nhấn mạnh đến tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn chung, chưa liên thông và những vướng mắc về quyền sở hữu, quyền khai thác, quyền của cộng đồng chủ thể di sản.

162.jpg
Du khách trải nghiệm trên "Chuyến tàu di sản" từ Huế vào Đà Nẵng - một sản phẩm du lịch mới của đường sắt Việt Nam. Ảnh: QUANG HƯNG

Kết nối giá trị văn hóa với thị trường

Ngay cả khi đã có dữ liệu tốt, cũng chưa thể bảo chứng cho cơ hội phát huy giá trị. Một làng nghề hàng trăm năm tuổi vẫn có thể mất dần thị trường nếu sản phẩm không đáp ứng nhu cầu hiện đại. Một chương trình nghệ thuật có được đánh giá cao về mặt chuyên môn vẫn khó tồn tại lâu dài nếu không có năng lực sản xuất, truyền thông, phát hành và xây dựng công chúng bài bản. Ở chiều ngược lại, chạy theo thị hiếu nhất thời bằng cách làm sai lệch di sản có thể tạo sự chú ý trong thời gian ngắn nhưng lại làm hao mòn chính giá trị cốt lõi…

Nghị quyết số 80 đặt vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa trên toàn bộ chuỗi từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu thụ và bảo vệ bản quyền, đồng thời yêu cầu xây dựng thị trường, thương hiệu và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hóa. Đây là bước chuyển quan trọng: Thay vì kiểm đếm di sản, điều cần quan tâm đó là những giá trị ấy đã tạo ra sản phẩm gì mới, ai được hưởng lợi, sản phẩm có đứng bền vững được trên thị trường hay không. Trên cơ sở đó, cách đánh giá hiệu quả cũng cần cụ thể hơn. Sau sự kiện văn hóa thu hút đông du khách tham dự cần đánh giá xem có sản phẩm nào tiếp tục được bán; có thương hiệu nào được hình thành; khách có ở lại lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn; nghệ nhân, người sáng tạo và cộng đồng sở hữu di sản nhận được lợi ích gì?... Trả lời được những câu hỏi ấy mới có căn cứ để nhận định một hoạt động văn hóa có thật sự tạo ra giá trị nối tiếp hay chỉ dừng lại ở hiệu ứng nhất thời.

“Hoàng cung Huyền ảo” tại Đại Nội Huế là một trường hợp thí điểm có những tín hiệu tích cực. Chương trình diễn ra trong bốn đêm 25-28/4/2026, mở cửa miễn phí để người dân, du khách trải nghiệm không gian Đại Nội về đêm. Theo thông tin được công bố sau chương trình, lượng khách trung bình đạt hơn 15 nghìn lượt mỗi đêm. Hiện thành phố tiếp tục nghiên cứu khả năng khai thác các hoạt động ban đêm tại khu vực di sản.

Số lượng đông người tham dự trước hết cho thấy nhu cầu đối với những cách trải nghiệm di sản mới. Nhưng giá trị dài hạn chỉ hình thành nếu sức hút ấy có thể tiếp tục được chuyển thành những sản phẩm đủ chất lượng để khách sẵn sàng trả tiền và quay trở lại; đồng thời tạo thêm nhu cầu cho biểu diễn nghệ thuật, thủ công, ẩm thực, lưu trú, bán lẻ và các dịch vụ khác. Làm được như vậy, một chương trình thành công sẽ trở thành điểm khởi đầu của nhiều hoạt động kinh tế dựa trên văn hóa.

Từ vốn văn hóa đến sức hấp dẫn và mang lại hiệu quả là cả một quá trình đòi hỏi nhiều thành phần cùng tham gia và kết nối được với nhau. Khi nghệ nhân có thể gặp nhà thiết kế, người sáng tạo gặp doanh nghiệp, dữ liệu có thể đến với người cần sử dụng, quyền lợi được bảo vệ và sản phẩm tốt tìm được đường tới công chúng, những “giá trị vốn” nằm trong di sản và bản sắc mới phát huy hết tiềm năng.

Điểm còn yếu ở nhiều nơi hiện nay là sự kết nối giá trị văn hóa với thị trường: Từ một chất liệu hay ý tưởng đến thiết kế cụ thể; từ thiết kế đến dự án có khả năng đầu tư; từ tác phẩm đến sản xuất; từ sản phẩm đến thương hiệu, kênh bán hàng và công chúng. Để làm được những việc ấy, bên cạnh vai trò của nghệ nhân, nghệ sĩ hay cán bộ văn hóa, còn cần nhà sản xuất, nhà thiết kế, chuyên gia công nghệ, người làm bản quyền, tài chính, marketing, phát hành; nhất là những người am hiểu lĩnh vực văn hóa cũng như cách thị trường vận hành.

(Còn nữa)

Phát huy giá trị văn hóa thành sức mạnh phát triển (kỳ 1)