Những năm gần đây, xã hội như bị chấn động bởi hai cuốn nhật ký thời hoa lửa làm xúc động lòng người là: Nhật ký Đặng Thùy Trâmvà Mãi mãi tuổi hai mươi. Từ hai cuốn nhật ký được công bố, bạn đọc chợt nhận ra rằng hình như thế hệ thanh niên "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" năm nào có nhiều người ghi nhật ký và qua những trang nhật ký thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu chiến trường, chúng ta thêm hiểu các anh, các chị đã sống, chiến đấu, hy sinh cao đẹp đến nhường nào. Những trang nhật ký ấy vốn là cõi riêng thầm kín của mỗi người bỗng trở thành tài sản tinh thần vô giá của tất cả mọi người và cần được giới thiệu, lưu giữ để trao truyền không chỉ cho hôm nay mà cho cả các thế hệ mai sau.
Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Tiến Bình - nguyên Chính ủy Học viện Quốc phòng, vốn trưởng thành từ người lính đặc công nước của Đoàn 367 đặc công- biệt động Anh hùng thuộc Bộ Tham mưu Miền (B2) - Quân Giải phóng miền Nam. Cuốn nhật ký giản dị và chân thực này viết từ đầu năm 1970 đến cuối năm 1975 - từ khi tác giả lên đường ra trận đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đó là thời gian gần sáu năm tác giả chiến đấu ở chiến trường trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất. Qua các trang nhật ký, người đọc sẽ không khỏi kinh ngạc trước thế giới riêng vô cùng cao đẹp của người lính thời chống Mỹ, họ luôn tràn đầy lòng yêu nước và lý tưởng cách mạng, xác định rõ ràng trách nhiệm của thanh niên khi Tổ quốc cần; và họ có một nghị lực phi thường khi vượt qua gian khó với ý chí quyết chiến, quyết thắng để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Đang ngồi trên ghế nhà trường, như nhiều thanh niên thời ấy, Nguyễn Tiến Bình khai tăng tuổi để được nhập ngũ. Và trong gần 400 trang của nhật ký được xuất bản thì có tới 200 trang ghi vào những ngày hoạt động ở chiến trường Phnôm Pênh, đây là những trang viết xúc động, đau xót kể về các trận đánh, các chiến công và những mất mát, hy sinh của đồng đội, đồng chí rất cụ thể, tỉ mỉ. Trong ba năm gian khổ, ác liệt ấy, không phải lúc nào ông cũng ghi được nhật ký vì khi vào trận, các ông phải để lại giấy tờ sổ sách ở hậu cứ hoặc căn cứ bàn đạp, rồi mải miết với những trận đánh, những nẻo đường chiến dịch. Có những giai đoạn tới năm tháng, và thường xuyên là một vài tháng ông không ghi được dòng nào, nhưng khi có điều kiện ghi chép, ông như trút vào cuốn sổ những nỗi niềm, những buồn vui của người chiến sĩ, những trận đánh như xuất quỷ nhập thần một cách giản dị, chân thật.
Ba năm chiến đấu trên chiến trường nước bạn, trưa ngày 26-8-1973 Đoàn 367 trở về Tổ quốc. Từ những trận đánh ác liệt đầu tiên khi chạm trán với quân đội Mỹ, rồi được điều động sang chiến trường nước bạn, tác giả là cán bộ phân đội, khi rời chiến trường Phnôm Pênh ông đã là cán bộ đại đội dày dạn trận mạc với những trận đánh vang dội. Yêu cầu của chiến sĩ trinh sát đặc công với những trận đánh triền miên không cho phép các ông mang theo bất cứ đồ đạc gì ngoài súng đạn, chúng ta hiểu rằng cuộc chiến đấu ấy gian nan, ác liệt biết chừng nào. Ông bắt đầu ghi nhật ký trở lại từ ngày 1-5-1975 giữa Sài Gòn vừa giải phóng với sự xúc động: "Lại được giở từng trang nhật ký ôn lại những chặng đường chiến đấu gian nan, và từ đây mình lại viết tiếp những trang nhật ký thân yêu", và "Bắt được liên lạc với nhau chúng mình cùng tiến vào Sài Gòn, xa lộ Biên Hòa rộng thênh thang. T54 của ta chạy theo hàng bốn, bọn địch trên đường tan tác. Đúng 10h30 ngày 30-4, chúng mình vào đến Dinh Độc Lập. Đúng 11h30 ngày 30-4 lá cờ giải phóng do bộ đội thiết giáp Quân đoàn 2 và Z19 đã cắm vững chắc, ngạo nghễ tung bay trên nóc Dinh Độc Lập". Như vậy, ông và đồng đội vừa là những người góp phần làm nên lịch sử, vừa là nhân chứng lịch sử trong giờ phút huy hoàng dân tộc ta toàn thắng.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng khi đọc những trang nhật ký còn nóng hổi hơi thở chiến trường viết cách đây mấy chục năm, thế hệ những người làm nên lịch sử năm nào như gặp lại chính mình những năm tháng gian lao đó đã sống, chiến đấu xả thân vì Tổ quốc như những người anh hùng thầm lặng. Tuổi trẻ hôm nay và các thế hệ mai sau thêm hiểu và tự hào về cha anh đã cống hiến cả tuổi xuân và không tiếc xương máu của mình vì độc lập, tự do của đất nước để nâng cao lòng tự hào dân tộc, trách nhiệm trước vận mệnh Tổ quốc.