Nhận diện thực trạng văn hóa ứng xử

Những hiện tượng văn hóa gây bức xúc xã hội đang diễn ra ngày một phổ biến, cho thấy một thực trạng đáng báo động trong văn hóa ứng xử cũng như nhận thức văn hóa của người Việt hiện đại. Rõ ràng, văn hóa đang có những vấn đề lớn cần bàn thảo và nhận diện cho thỏa đáng, để có thể đưa ra những giải pháp phù hợp điều chỉnh tình hình.

Những nỗ lực xây dựng lại văn hóa ứng xử đang được đẩy mạnh. Trong ảnh: Tuổi trẻ Thủ đô tham gia điều tiết giao thông.
Những nỗ lực xây dựng lại văn hóa ứng xử đang được đẩy mạnh. Trong ảnh: Tuổi trẻ Thủ đô tham gia điều tiết giao thông.

Một xã hội “dịch chuyển”

Kỳ họp thứ sáu Quốc hội khóa XIV vừa mới kết thúc. Những lúng túng trong phần trả lời chất vấn các đại biểu Quốc hội của Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch phần nào phản ánh thực trạng nền tảng văn hóa đạo đức đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Một loạt các giải pháp mà Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện đưa ra chưa đáp ứng được mong đợi của các đại biểu Quốc hội. Câu hỏi của đại biểu Nguyễn Quang Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội: “Tại sao khi xã hội nghèo, khó khăn thì đạo đức được duy trì và văn hóa rất tốt? Bây giờ thoát nghèo, trở thành xã hội có thu nhập trung bình thì nền tảng đạo đức lại xuống cấp trầm trọng?” đang thật sự là nỗi trăn trở của nhiều người.

Lâu nay, khi nhìn sâu vào vấn đề này, chúng ta mới chỉ tìm câu trả lời một cách chung chung, là do kinh tế phát triển, do du nhập lối sống nước ngoài, chưa quan tâm đến giáo dục nhân cách mà chưa nhiều người quan tâm “giải mã” từ khía cạnh những thay đổi mang tính xã hội học của Việt Nam thời gian qua.

Nông nghiệp - nông dân - nông thôn vốn là ba hằng số của văn hóa Việt. Nhiều đời, không gian sinh tồn chính của người Việt là văn hóa làng. Trong không gian ấy, “cái tôi” gần như tan biến. Người ta bị ràng buộc bởi các quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm... Một người, khi làm điều gì sai trái, chẳng hạn như một đứa trẻ vẽ bậy lên đình làng, thay vì tìm đích danh “thủ phạm”, người ta thường “điều tra” ngay xem điều đó do “con cái nhà ai” gây ra. Các quy định pháp luật về xử phạt có thể được thực thi, có thể không. Song, tai tiếng sẽ còn tồn tại lâu dài. Làng truyền thống người Việt, nhất là khu vực Bắc Bộ, kiểm soát, điều tiết các thành viên của mình bằng các thiết chế phi chính thức. Mặc dù tồn tại nhiều nhược điểm, nhưng nó cũng có những ưu thế nhất định trong việc duy trì trật tự xã hội, nhất là văn hóa ứng xử.

Tuy nhiên, xã hội đang đổi thay. Theo Tổng cục Thống kê, cư dân đô thị hiện chiếm khoảng 35% dân số cả nước. Con số này năm 2009 là hơn 29%. Với tốc độ đô thị hóa hiện tại, một nửa dân số Việt Nam sẽ sống ở thành thị trong tương lai gần. Sự “dịch chuyển” cơ cấu xã hội từ nông thôn sang thành thị diễn ra mạnh mẽ. Khi “dịch chuyển” trở thành đô thị và cư dân đô thị, cuộc sống thay đổi. Cá nhân được giải phóng khỏi những ràng buộc về áp lực dư luận, về việc phải “nhìn trước, nhìn sau” mỗi khi hành động. Hệ quả là không ít thói hư tật xấu vốn được kiềm tỏa, nhất là tính tùy tiện - đặc thù của lối sống tiểu nông - nay được “giải phóng” theo. Người ta không dám vẽ bậy lên ngôi đình ở làng. Nhưng người ta có thể yên tâm vẽ bậy lên tháp Hòa Phong bên hồ Hoàn Kiếm, vì không phải “nhìn trước, nhìn sau” và chưa bao giờ thấy ai bị phạt cả.

Lối sống đề cao giá trị cá nhân là một đặc điểm nổi bật của lối sống đô thị. Song, dịch chuyển từ xã hội đề cao “cái ta” sang “cái tôi” mà không có sự chuẩn bị kỹ càng khiến những “thảm họa ứng xử” xảy ra nhiều hơn. Nhiều người mặc hở hang ra nơi công cộng một cách cố ý, không chỉ giới hạn trong lớp trẻ, cũng là bởi muốn khẳng định cá nhân. Người ta sẵn sàng cãi vã nhau trong việc giành chỗ chụp ảnh, chỉ để thỏa mãn mong muốn tạo ấn tượng trên mạng xã hội. Việc đề cao giá trị cá nhân nhưng thiếu đi nền tảng văn hóa, thiếu đi sự giáo dục các chuẩn mực xã hội dẫn đến thiếu tôn trọng cộng đồng, coi thường người chung quanh mà điển hình là việc hát hò ồn ã hay bộc lộ tình cảm thái quá, làm chuyện “phòng the” trong rạp chiếu phim, hay quán trà sữa...

Trong quá trình “chuyển dịch” của xã hội, nông thôn cũng không đứng yên. Tổ chức - không gian của làng cổ truyền cũng thay đổi khi những con đường nối thành thị - nông thôn ngày một thuận tiện; các phương tiện truyền thông đại chúng còn kết nối thành thị - nông thôn nhanh hơn nữa. Ngay ở nông thôn, người ta cũng ít e ngại dư luận hàng xóm, ít nghĩ đến danh dự gia đình, họ hàng trong các hành vi ứng xử.

Loay hoay “vá víu”

Nhiều người hay dùng cụm từ “du nhập lối sống từ nước ngoài”, nhất là phương Tây khi đề cập đến những tiêu cực trong văn hóa ứng xử. Song thực tế, văn hóa phương Tây cũng có “dòng chính”, “dòng phụ”. Xã hội phương Tây nhìn chung đề cao các giá trị cá nhân. Nhưng “cái tôi” đó nếu ảnh hưởng đến cộng đồng thì sẽ bị xử lý. Nói đúng hơn, chúng ta đã “nhập khẩu” những tiêu cực nhiều hơn là tích cực. Chúng ta đã bị động trước những thay đổi nhanh chóng của văn hóa ứng xử, cả trong giao lưu, lẫn những thay đổi tự thân của xã hội.

Đô thị Việt Nam có đặc thù là mang nhiều dấu vết làng xã, nhưng lại không còn sự kiểm soát của những thiết chế phi truyền thống. Đặc thù của xã hội đô thị được quản lý bằng “luật”, thay vì thiên về “lệ” như ở làng. Khi lệ đã mất, mà thực thi pháp luật yếu kém, thì khó hạn chế những tật xấu vốn có trong xã hội, và còn khiến nhiều thói hư mới phát sinh. Điều này cộng hưởng với nền giáo dục nặng về nhồi kiến thức mà nhẹ phần giáo dục nhân cách. Triết lý giáo dục này làm cho giới trẻ dễ tiếp nhận “nhầm giá trị” trong giao lưu văn hóa với nước ngoài. Ít người học cách giữ gìn vệ sinh môi trường nơi công cộng như người phương Tây. Nhưng học cách ăn mặc hở hang lại rất mau lẹ. Nông thôn đổi thay kéo theo những thiết chế phi truyền thống cũng đang yếu dần đi, mặc cho những “hương ước” kiểu mới được lập ra.

Gần đây, những nỗ lực xây dựng lại văn hóa ứng xử đang được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Hầu như ngành nào cũng xây dựng Quy tắc ứng xử cho cán bộ, nhân viên ngành mình. Việc hăng hái một cách thái quá khiến người dân lạc vào “rừng quy tắc”. Chẳng hạn, một người đến khu vực bờ hồ Hoàn Kiếm sẽ bị chi phối bởi: Quy tắc ứng xử nơi công cộng do UBND thành phố ban hành; Bộ Quy tắc ứng xử văn minh du lịch và Nội quy của khu vực, do UBND quận Hoàn Kiếm quy định. Điều gây khó hiểu là những hành vi vẽ bậy, xả rác ra nơi công cộng... vừa được quy định trong các văn bản pháp luật, với các chế tài được xây dựng cẩn thận, lại cũng vừa nằm trong các quy tắc ứng xử. Chưa kể, mỗi người chúng ta đều đang ở trong một hoặc một số cuộc vận động, một phong trào xây dựng đời sống văn hóa nào đó do các đoàn thể xã hội thực hiện. Vậy nhưng, tháp Hòa Phong - di tích nổi tiếng bên hồ Hoàn Kiếm luôn được lấy làm thí dụ điển hình về nạn vẽ bậy lên di tích. Còn không gian hồ Hoàn Kiếm cũng là nơi xả rác kinh hoàng nhất sau mỗi kỳ lễ, Tết.

Ngành giáo dục cũng có những thay đổi nhất định. Đáng chú ý nhất là TP Hà Nội còn đưa hẳn bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội” vào giảng dạy trong nhà trường hàng chục năm qua. Tuy nhiên, thực tế thì việc rèn giũa văn hóa ứng xử vẫn thường được tiến hành một cách… qua loa.

Giáo dục là gốc trong hình thành nhân cách, trong đó có văn hóa ứng xử. Song, cũng cần nhìn nhận vào những thay đổi của xã hội để đưa ra những giải pháp thích hợp. Môi trường nào nên áp dụng quy định, môi trường nào sử dụng quy tắc. Khi đạo suy thì dùng lễ. Khi lễ suy thì dùng luật. Đó là câu người xưa từng nói.

Có thể bạn quan tâm