Ngài Bươm Bướm

Đảo Pê-nang (Ma-lai-xi-a) có hệ sinh thái phong phú, mà ông Đê-vít Hô có đầu óc thức thời: ông chọn vị trí ở ven một làng chài, phong cảnh ngoạn mục đậm nét nhiệt đới làm nông trại để chăn nuôi rùa, kỳ đà, ếch nhái, nhện, rết, bò cạp... Riêng trong một khu vườn rộng chừng một héc-ta, ông nuôi toàn… bươm bướm.

Ngài Bươm Bướm Giô-dép Hô.
Ngài Bươm Bướm Giô-dép Hô.

Cơ man là những con bươm bướm - to có, nhỏ có, mầu sắc đậm nhạt hay diêm dúa rực rỡ... - bay lượn rập rờn chung quanh, thậm chí đậu cả vào tay, vào vai du khách. “Bươm bướm đậu vào vai là điềm gở, muốn tránh rủi ro phải mua con bươm bướm đó” - quan niệm cổ xưa của dân bản xứ hóa ra lại giúp họ kiếm tiền: bươm bướm được bán lẻ, sang đầu thập niên 1980 thì buôn chuyến, thị trường mở sang cả Âu Mỹ. Sau đó giới thương gia thâu tóm hết - họ thu gom và bán bươm bướm của người khác, còn gia đình ông giáo dạy tiếng Anh Đê-vít Hô thì chỉ bán bươm bướm của mình, rồi ông trao lại nông trại cho người con trai Giô-dép.

Kiến trúc sư nuôi… bươm bướm

Giô-dép Hô là một kiến trúc sư được đào tạo tại Mỹ và từng nuôi khát vọng làm những công trình tầm cỡ, nhưng rốt cuộc lại thành người nuôi bươm bướm. Nhận sứ mệnh trở về nối nghiệp nhà, Giô-dép không tiện từ chối, và đứa con ngoan ngoãn đã dần dần đẩy công việc làm ăn tấn tới.

Đầu tiên, anh triển khai quy hoạch mới, bố cục lại không gian nông trại, thiết kế và xây dựng những khu chăn nuôi. Muốn giữ được bươm bướm ắt phải trồng nhiều cây - hơn 100 nghìn mét vuông ở đây phải là một phần hài hòa với thiên nhiên hoang dã chung quanh. Hơn nữa, mỗi thứ cây cỏ muốn trồng đều phải chọn lựa theo sở thích của từng đàn bươm bướm. Năm lại năm, nông trại nhà Hô đã trồng được 300 loài cây cối nhiệt đới, hơn 250 loài cây ăn quả - kể cả sầu riêng Pê-nang và anh đào Tây Ấn - có đủ hương nhựa cho bươm bướm giữ gìn nhan sắc.

Với tay nghề kiến trúc, Đê-vít chăm chút từ cổng ra vào thông thoáng cho đến “nhà hộ sinh bươm bướm”. Những bức màn gió bằng tre vừa trang trí vui mắt khách tham quan, vừa ngăn cản bươm bướm “đào tẩu”. Ở lối vào luôn luôn được giữ ánh sáng ở mức lờ mờ và nhiệt độ 22 - 24°C, còn ở sâu bên trong thì sáng sủa, ấm áp hơn và có gió thoang thoảng. Trong pa-vi-lon - nơi những đàn bươm bướm diêm dúa trình diễn - luôn luôn bảo đảm nhiệt độ khoảng 28-30°C, độ ẩm 80%. Với bươm bướm, hoa là thức ăn, còn lá là chỗ sinh sống, chỗ đẻ trứng, cho nên trong nông trại có rất nhiều bồn hoa, thường là di động để còn luân chuyển đến chỗ khách tham quan. Khắp vườn đều có bày sẵn những “bàn tiệc” với những món khoái khẩu của bươm bướm, hoặc là trái cây chín, hoặc là mâm xi-rô. “Tiệc” được bày sao cho đàn “thực khách” khỏi đụng độ làm gãy cánh của nhau, mà khách tham quan vẫn tiện ngắm nghía… Dễ hiểu vì sao đàn đàn bươm bướm không muốn rời xa chốn tiện nghi này.

Nuôi bươm bướm lắm công phu

Nông trại và những pa-vi-lon chỉ là phần du khách nhìn thấy, còn ở cách đó vài cây số mới là chỗ nhân giống bươm bướm. Ở “vườn thiên đàng”, chủ trại quán xuyến toàn bộ chu trình một vòng đời sinh thái của bươm bướm, từ quả trứng tí hon đến những nàng tiên có cánh. Trứng nở ra ấu trùng được bọc trong kén, kén nở thành sâu non, sâu non phát triển thành nhộng và nhộng nở thành bướm. Sâu non phàm ăn, có thể ngốn cả lá hoặc cả cây và tăng trưởng ở cỡ… siêu tốc. Giả sử con người tăng trưởng theo tốc độ ấy thì khi đạt đến tuổi thiếu niên phải nặng hơn 120 kg! Khi ăn hết lá bên trong bồn, sâu non được chuyển vào “nhà hộ sinh” - một thiết bị dạng lồng ấp được điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm - và hóa thành nhộng. Quá trình thoát kén để biến thành bươm bướm được nhà Hô hết sức chăm bẵm: nhộng ló đầu ra khỏi vỏ kén, đưa chân trước ra khỏi kén để dùng chân đẩy phần cơ thể còn lại ra, xuất hiện râu và cánh. 30 giây sau khi thoát kén, bươm bướm hài nhi đã hoàn toàn “tự do”. Cuộc “trở dạ” diễn ra trong khoảng thời gian từ 1 tuần đến 11 ngày và không thể dùng máy móc tự động, chỉ trông cậy vào bàn tay con người. Những bươm bướm non bấy phải có người mớm bón: dùng bàn chải tơ quết mật vào vòi, mỗi một ngày công chỉ cấp dưỡng được cho 15 bươm bướm nhóc.

Bươm bướm sơ sinh sau khi khô cánh được phân thành từng loại: phần được gửi sang Âu Mỹ cho người đặt mua thì đưa vào thiết bị ổn nhiệt, phần được giữ lại để tiếp tục làm giống, phần được thả vào trong vườn nhà, và nhất thiết phải thả một phần ra ngoài rừng. Nhà Hô đã “ký kết hợp đồng bất thành văn” với thiên nhiên cho cả đôi bên cùng có lợi: nếu chỉ nhân giống nội bộ, để bươm bướm giao phối “cận huyết” thì lũ hậu sinh sẽ thoái hóa, nhan sắc chóng tàn, và những con bươm bướm hoang ngoài rừng sẽ giúp khắc phục hệ lụy đó. Một số loài bươm bướm có nguy cơ tuyệt chủng như bươm bướm phượng cánh chim chấm liền (Troides helena) thì được con nào, anh đều cho thả hết ra rừng để chúng tăng “dân số”.

Nguồn lợi

Đời bươm bướm không dài, bộ cánh lộng lẫy của mỗi nàng tiên chỉ thọ đôi - ba tuần rồi héo tàn. Có lẽ biết thế, nên du khách đến thăm trại bươm bướm đông như trẩy hội.

Bản thân khu trại đã là cả một bộ sưu tập sống, nhưng chủ nhân còn lập riêng một bảo tàng về bươm bướm, lưu giữ nhiều tiêu bản của những loài đã bị tiêu vong. Trại bươm bướm đóng vai trò như một trung tâm bảo tồn các loài côn trùng trên đảo Pê-nang và bắt đầu được đưa vào khai thác du lịch từ năm 1986. Cô vợ của Giô-dép thì lo tiếp thị và trực tiếp bán bươm bướm hoặc nhộng và nhiều đồ lưu niệm khác. Mỗi con nhộng có giá từ 1,5 đến 80 USD, nếu thuộc loài quý hiếm, mỗi cặp đến 650 USD. Nhà Hô trích 20% lợi nhuận vào các chương trình giáo dục môi sinh.

Sau hơn 30 năm gây dựng, trại bươm bướm nhà Hô là lớn nhất không chỉ trong nước mà cả thế giới: có khoảng 4.000 cá thể thuộc hơn 120 nhóm bươm bướm khác nhau. Hiện nay, trại bươm bướm được liệt vào hàng danh lam thắng cảnh của Ma-lai-xi-a, còn chủ nhân của nó được gọi vui là Ngài Bươm Bướm.