Nhưng thực trạng của làng tranh bây giờ ra sao? Có dạo Xunhaxaba (Hà Nội) nhận đặt và xuất khẩu với số lượng tranh lớn cũng làm nức người dân nơi đây dù giá thành tranh không đắt lắm. Nhu cầu vài năm gần đây thay đổi. Người làng tranh bây giờ nảy sinh tâm lý ai đặt thì làm, nhiều khi với số lượng tranh quá ít cũng không muốn làm. Thi thoảng cũng có nơi vào làng tranh đặt vài nghìn tờ, không sản xuất được thường xuyên mà cũng khó sản xuất tranh đều đặn trong năm, ảnh hưởng đến thu nhập của người làm tranh. Các nghệ nhân như cụ Thức, ông Sâm, ông Láng... có tay nghề cao và kinh nghiệm dần dần khuất núi cả.
Thời buổi cơ chế thị trường cả làng đổ xô vào làm hàng mã, cũng vốn là "mặt hàng" truyền thống trước đây. Còn tranh Ðông Hồ một thời nổi tiếng của dòng tranh xứ Bắc, kỹ thuật công phu, giấy đắt, đủ các loại mầu lấy từ chất liệu tự nhiên, tiêu thụ lại khó. Người sành tranh lắm bây giờ mới dám chơi tranh Ðông Hồ, chứ không như ngày nào tranh bày bán trên mẹt quê khắp các chợ Phủ Thuận và ở nhiều nơi khác. Dạo qua các hè phố cứ thấy tranh Tàu, tranh Thái bày treo la liệt trên các quầy sách báo và văn hóa phẩm như lấn át người xem, người mua.
Hồi đó chúng tôi có dịp trở lại làng Ðông Hồ thăm anh Trần Nhật Tấn. Quang cảnh xóm, thôn nghe chừng đổi khác nhưng nét chân tình trong con người anh vẫn như xưa. Vẫn giọng nói hồ hởi khi anh nói về tranh và lật giở từng tờ cho chúng tôi xem. Nghe anh giảng giải kỹ thuật vẽ tranh mới càng thấy biết bao công phu trong nghề. Có hôm trời nắng nóng độ ẩm tăng phải gia giảm mầu cho phù hợp với độ xốp của tranh. Quấy hồ đặc quá, giấy cong vênh như bánh đa quá lửa, không in tranh được... rồi kỹ thuật khắc ván tranh, chế tạo mầu từ lá tre, rỉ đồng, hoa hòe, vỏ điệp... Anh Tấn tâm sự: "Nhà đông, tôi cũng phải cho các cháu làm thêm vàng mã để sống. Nhưng mình không làm tranh nữa mà để mai một dòng tranh thì thật tủi hổ với ông cha, các anh ạ! Nhiều khi tôi dành hẳn một gian buồng trong nhà để sáng tác mẫu tranh. Gian ngoài cho các cháu làm hàng khỏi bề bộn và đỡ bận tâm đến không khí sáng tác của mình. Kinh tế gia đình từ những năm đổi mới cũng đỡ, nên tôi cũng có điều kiện vẽ tranh hơn". Do chịu khó học hỏi và yêu nghề làm tranh dân gian, anh Tấn được các cụ nghệ nhân trong làng truyền nghề cho. Các loại tranh in ván, tranh khắc, trổ lé... anh đều nắm vững và xử lý kỹ thuật làm tranh thuần thục. Những năm trước anh Tấn đã được tín nhiệm phụ trách tổ làm tranh Ðông Hồ gia công cho Nhà nước theo chủ trương hồi phục dòng tranh dân gian. Anh đã sáng tác hàng trăm tranh, có nhiều tranh chưa đưa ra xuất bản biểu hiện công phu tìm tòi xử lý chất liệu trong tranh dân gian. Các tranh Bắt sống phi công Mỹ, Bác Hồ về thăm làng đã được Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam bày treo trang trọng và in trong các vựng tập là niềm vui của anh trên đường tìm về với những giá trị văn hóa dân tộc.
Niềm say mê nghệ thuật ấy chưa bao giờ giảm trong anh. Anh vẫn cất công ra phố phường Hà Nội để sưu tập bộ tranh Bát tiên và Tố nữ cổ mà lâu nay thất lạc. Các nhà nghiên cứu nghệ thuật Vương Như Chiêm, Chu Quang Trứ, khi về Ðông Hồ đều tìm đến anh Tấn để tìm hiểu ngọn ngành của dòng tranh "độc nhất, vô nhị" này... Nhiều đoàn khách nước ngoài như Nhật Bản, Thụy Ðiển..., qua sự trình bày của anh Tấn, đều viết bài ca ngợi vẻ đẹp làng tranh với sức sáng tạo dồi dào của các nghệ nhân trên các báo, tạp chí nổi tiếng của thế giới.
Cách đây không lâu, tôi và anh bạn nghệ sĩ nhiếp ảnh về làng tranh gặp lại nghệ nhân Nguyễn Ðăng Chế - người làm sống lại một dòng tranh. Vẫn còn cảnh dọc các lối ngõ phấp phới những tờ giấy nhuộm đủ các loại mầu sặc sỡ, xanh, đỏ, tím, vàng... phơi trên các sào nứa. Vẫn còn cơ man giấy trang kim anh ánh nổi lập lờ trên mặt nước đen kịt khắp cống rãnh đổ ra mương máng... Cả làng bây giờ vẫn làm vàng mã (nguồn sống chính của làng bán cho người dưới cõi âm). Họ xây được nhà tầng, mua xe máy, sắm ti-vi. Cái làm chúng tôi thật sự cảm động là riêng nhà ông Chế cũng xây được nhà tầng khang trang và nuôi sống cả gia đình bằng tiền làm tranh. Theo sách Tranh dân gian Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa, 1994 ghi lại: "Ðông Hồ họ lớn như họ Nguyễn Ðăng theo gia phả đã hành nghề in tranh ở đây được 20 đời tức là khoảng trên dưới 200 năm...". Truyền thống làm tranh của họ Nguyễn Ðăng nếu không được khai thác bảo tồn và phát triển thì cũng chìm trong quên lãng mà thôi. May thay, điều ấy chưa xảy ra. Ông Chế tiếp chúng tôi niềm nở mặc dù ông đang tất bật hướng dẫn cả nhà làm tranh. Ðang mùa vụ mà! Ông tâm sự: "Nhà tôi xây bằng tiền gom góp thu được từ làm tranh và tiêu thụ tranh. Ba gian nhà, tôi dành một gian tiếp khách, hai gian còn lại để làm nơi sản xuất tranh và xếp các bản khắc cổ cất giữ gìn trên bàn thờ gia tiên. Người của bảo tàng dân tộc học về ngỏ ý mua lại, tôi không bán. Giữ nghề là một chuyện, đây còn là tất cả đời tôi gắn bó với nghề, thế đấy anh ạ!".
Ðưa tranh Ðông Hồ đến với đời sống trong cơ chế thị trường là một cuộc giành giật không dễ dàng chút nào và tốn không ít công sức. Bản thân ông Chế cũng phải mày mò vào phòng lưu trữ - Thư viện Quốc Gia Việt Nam photocopy toàn bộ mẫu tranh dân gian Việt Nam do một nhà xuất bản có uy tín ở Pa-ri (Pháp) ấn hành năm 1960 mang về nghiên cứu. Ðược sự tài trợ của tổ chức SIDA, UNESCO, ông sang sửa lại khu nhà gỗ và phục chế hơn 100 bản khắc cổ... Và nghệ nhân Nguyễn Ðăng Chế suy nghĩ rất lung, ông quyết định in tranh Ðông Hồ bằng nhiều cách khác nhau: Tranh bộ, tranh mực nho, bưu thiếp, bưu ảnh... tùy theo kích cỡ khác nhau và thị hiếu của đối tượng người mua mà vẫn giữ được hồn vía của tranh.
Cơ sở phát hành tranh của nghệ nhân Nguyễn Ðăng Chế có mặt khắp nơi trong tỉnh, ở Thủ đô Hà Nội, TP Hồ Chí Minh... và nhiều nơi khác có nhu cầu tiêu thụ. Chẳng mấy cuộc triển lãm do những trung tâm văn hóa lớn này tổ chức mà ông không đăng ký triển lãm và phát hành nhằm mang vẻ đẹp của tranh đến với đông đảo mọi người. Áp Tết Nhâm Thìn, ông Chế dỡ các mẫu tranh Lợn ăn lá dáy, mẹ con đàn lợn, lợn có khoáy âm dương, múa rồng..., in nhân bản đưa triển lãm rồi sản xuất tranh đại trà theo yêu cầu đơn đặt hàng của khách có nhu cầu mua tranh.
Bồi hồi ngắm những chồng bản khắc gỗ từng phủ bụi thời gian và những bức tranh dân gian được treo trang trọng trên tường mang đậm sắc thái Việt, tôi hỏi ông Chế: "Sao ông lại mê nghề làm tranh như vậy?". Ông Chế cười hồn hậu: Nói thực với anh, nghề của ông cha, giữ gìn là trách nhiệm của con cháu. Bỏ nghề, rửa nghề thì nhục lắm.
Ðược biết gia đình nghệ nhân Nguyễn Ðăng Chế còn tự bỏ tiền xây dựng khu trưng bày, giới thiệu sản phẩm của làng nghề mỗi năm thu hút hàng trăm nghìn lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu cách thức in tranh và mua tranh. Ông Chế rất vui khi nghe tin tranh Ðông Hồ hiện đang được cơ quan chức năng của Việt Nam lập hồ sơ đề nghị trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Mặt trời đã lên nửa con sào mà khói sương còn vơ vẩn trên các mái nhà, ngọn cây, đất bãi. Dòng sông Ðuống cứ lặng lẽ trôi xuôi, chảy mãi về xa... Tự nhiên như cảm được cái hồn của trời đất, tôi ước ao một ngày nào đó không xa, tôi trở về cái làng tranh đã in dấu vết khá đậm trong tuổi thơ của tôi những sắc mầu dân dã ấy..., lại bừng lên cái rậm rịch của không khí những ngày xeo giấy, khắc ván in tranh, phơi tranh. Và ai đó kia ngỡ mẹ tôi tóc trắng như cước đang cầm thét thông (chổi lá thông) quét lên nền điệp trắng ngà. Cái nền điệp ai đó đã ngắm một lần chắc chẳng thể nào quên: Con về mùa nắng thơm reo/Vẹn nguyên màu trắng trong veo giữa trời.
Và tôi ước...