Lớn lên trong cao trào kháng Nhật cứu nước, sự ra đời của Việt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh,Võ Hồng Huy vừa dạy học kiếm sống vừa tham gia Việt Minh bí mật ở xã Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Tổng khởi nghĩa năm 1945, hai mươi tuổi, ông làm Bí thư Thanh niên cứu quốc, Bí thư Chi bộ xã Tiên Bằng. Từ ấy, ông bước vào con đường hoạt động cách mạng đầy vẻ vang nhưng cũng không ít đận gian nan. Ông làm Thư ký Ủy ban Kháng chiến huyện Can Lộc, cán bộ Khu ủy Khu Bốn, Chánh văn phòng Tỉnh ủy Hà Tĩnh, Đảng ủy viên Đảng ủy Cơ quan Dân Chính Đảng. Tiếp đó là hai chục năm, làm Phó Trưởng ban, rồi Tỉnh ủy viên, Trưởng ban Kiểm tra Tỉnh ủy Hà Tĩnh, Nghệ Tĩnh. Công việc chuyên môn của một cán bộ chủ chốt của Đảng chiếm hết thời gian vật chất của ông.
Sau này đọc những tác phẩm nghiên cứu văn hóa của ông, tôi cứ nghĩ chắc những năm tháng ở cơ quan Tỉnh ủy Hà Tĩnh, Nghệ Tĩnh làm cái công việc không, hoặc ít dính dáng gì đến văn chương, nghệ thuật, đến di sản văn hóa, ông đã phải khát khao, phải nồng nàn yêu quý non nước quê hương, phải tha thiết với cuộc sống lắm mới giữ cho dòng chảy chìm sâu như Thái Kim Đỉnh nói ấy không một lúc ngưng nghỉ. Mà sự thực nó không ngưng nghỉ. Năm 1984, ông nghỉ hưu thì năm 1995, cuốn khảo cứu: Non nước Hồng Lam (Tập 1) của ông ra đời. Một cuốn khảo cứu văn hóa ông cầm bút trong mười năm trời và viết bằng 60 năm gắn bó mật thiết với quê hương, xứ sở. Non nước Hồng Lam (Tập 1) lập tức nhận giải A của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Tôi nghĩ, tôi có lý khi nói rằng, sau L.Breton với An Tĩnh cổ lục, Nguyễn Đổng Chi với Địa chí Dân gian Nghệ Tĩnh, Thái Kim Đỉnh với Đất văn vật Hồng Lam, núi sông Hà Tĩnh từ thuở khai thiên tịch trải bao thăng trầm dâu bể, với sống, chết, với ảo, thực tụ về và lên tiếng trong Non nước Hồng Lam của Võ Hồng Huy. Rồi tập 2 Non nước Hồng Lam ra đời. Bấy giờ là năm 2010, năm ông vào tuổi 85.
Dẫu viết về cái gì, thể loại, loại hình nào, dẫu tác phẩm dịch từ tiếng Pháp hay tiếng Hán, ông đều kỹ lưỡng từng câu, từng chữ. Ngôn từ giản dị, trong sáng tạo nên một văn phong khoa học mà thấm đẫm chất trữ tình của ông đã xác lập tiểu sử, hình dạng, màu sắc, hồn vía của mỗi ngọn núi, con sông, của đền, chùa, miếu mạo, lăng tẩm, của danh nhân, chí sĩ... trên đất Hà Tĩnh... Ông viết về Núi Hồng - Hoan Châu đệ nhất danh sơn: “Cái tên Núi Hồng làm cầu nối giữa một bên Ngàn Hống - tên Nôm và một bên, Hồng Lĩnh, tên Hán- Việt. Cụm tên ấy vừa nôm na vừa chữ nghĩa, vừa gọn nhẹ trong phát âm, nó đã và đang trở thành một tên gọi thông dụng”. Ông viết về Sông La: “Có một dòng sông không nguồn cũng không cửa, từ xưa, vẫn được sử sách ghi nhận là con sông lớn, nổi tiếng một châu... La đồng nghĩa với là - dải lụa, dải là - hình ảnh mềm mại mượt mà của dòng sông ấy. Từ tên Nôm được chuyển dịch thành La Giang. Vì có vị thế tiêu biểu cho vùng đất trù phú, đặc sắc, tên sông được tuyển chọn làm địa danh huyện sở tại: huyện La Giang. Thời Lê - Trịnh, vì kiêng húy đổi thành La Sơn - tên cũ huyện Đức Thọ ngày nay...”. Ông khắc họa chân dung danh nhân Bùi Cầm Hổ: “Hồng Lam chung tú/ Bùi tướng công thiên cổ vĩ nhân (*). Sở dĩ trở thành một nhân vật nghìn đời sống mãi, bởi từ tài năng, đức độ và phong tiết của ông. Đối với chính sự ông là bậc sĩ phu tận tâm, quyết đoán, công minh, cương trực, không hề tránh né, xu phụ một ai...”.
Không chỉ tôi mà nhiều người khác năng lui tới nhà ông, “quấy rầy” ông. “Quấy rầy” và quây quần, đầm ấm. Người nhờ ông dịch sắc phong, kẻ nhờ ông dịch bản gia phả của tổ tiên để lại, lại có người chở ông trên xe máy đi phục hồi những con chữ Hán bị mờ nhòe, mất nét ở đền chùa, lũy thành, lăng tẩm... Tôi thấy ông chẳng từ chối, giấu giếm điều gì với các thế hệ sau ông. Ông chối từ những chuyện phù phiếm, háo danh cần mẫn đi cùng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của quê hương, đất nước. Ông yêu những gì tạo hóa sinh thành, cha ông sáng tạo, xây đắp nên bằng một thứ tình yêu nồng nàn. Từ người anh em quanh ông, cỏ cây, sông núi quanh ông, lễ hội quanh ông, đền chùa, miếu mạo quanh ông... Tôi thầm nghĩ, những người như ông đi qua để thế gian này đẹp hơn, để con người sống nhân hậu hơn, gần gũi với thiên nhiên hơn.
Tháng chạp năm Ất Mùi 2015, tôi đến thăm ông. Chiều ấy mưa lay phay và gió se lạnh. Thấy loáng thoáng hoa đào trong những khu vườn sâm sẫm bên đường và thoảng mùi hương trầm nôn nao. Chợt nhớ bữa nào đó, Thái Kim Đỉnh cười buồn, rồi nói rằng, Tết này mình và ông Huy ra ngoài cửu thập; mình chín mốt, ông Huy chín hai. Hai cây cổ thụ trong làng văn hóa đã bắt rễ vào đất quê hương, tỏa bóng xuống đất quê hương sống tươi tốt, mập mạp sắp trọn một thế kỷ rồi, trời ạ. Hôm ấy, theo thói quen tôi đi thẳng lên cầu thang bước vào phòng làm việc của ông. Ngọn đèn bàn đang tỏa một vùng ánh sáng tròn trên những trang giấy trắng trước mặt ông. Suốt cuộc đời, bao nhiêu lần ông đối diện với trang giấy trắng, với ông là cô đơn, là dằn vặt, là khát vọng, là sức mạnh, là niềm vui thanh khiết nhất. Trước trang giấy trắng ông hoàn toàn đủ quyền năng thức dậy những gì thấy cần phải thức dậy. Ông ngồi bên bàn, tấm lưng gầy khom xuống, những đường răn trên gương mặt phúc hậu, dưới ánh sáng nom rõ hơn, và có chút gì đó bí ẩn tôi không đủ sức đọc ra... Ông lại viết. Viết với tất cả sự đam mê, tất cả tình yêu và tất cả trách nhiệm với con người, với cuộc đời, với thời đại mình đang sống.
_________________
(*) Thơ Tiến sĩ Nguyễn Văn Trình (1872- 1949), Võ Hồng Huy dịch.

Hơn nửa thế kỷ lao động miệt mài cho đến ngày 25-3-2016, lặng lẽ về cõi vĩnh hằng, Nhà Nghiên cứu Văn hóa Võ Hồng Huy (1925 - 2016) đã tạo dựng được một tài sản văn hóa có giá trị, quý báu vô cùng: Hàng nghìn trang sách khảo cứu, giới thiệu về núi sông, danh thắng, phong thổ, lễ hội, làng xã, dòng họ, danh nhân, sự kiện tiêu biểu của xứ Nghệ; hàng nghìn trang địa chí, lịch sử các địa phương với nhiều tác phẩm Hán - Nôm, thơ, câu đối, trướng mừng...
Tập 1: Non nước Hồng Lam do Tiến sĩ Võ Hồng Hải tập hợp ấn phẩm, bản thảo, tư liệu, tuyển chọn và NXB Văn học ấn hành vào tháng 3-2018, gồm 45 bài viết về Núi sông - Danh thắng, Phong thổ - Lễ hội trên đất Hà Tĩnh mới chỉ là một phần trong trước tác của ông.