- Thưa ông, đốt rác phát điện không phải là công nghệ mới trên thế giới, nhưng khi triển khai tại Việt Nam, nhiều dự án vẫn chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Theo ông, đâu là "nút thắt" cần được tháo gỡ trước tiên?
- Cái khó đầu tiên chính là công tác lựa chọn nhà đầu tư và sự hiểu biết, ứng xử đối với rác. Ở nhiều nước, chính quyền giữ vai trò quản lý, việc đánh giá công nghệ và xây dựng tiêu chí kỹ thuật được giao cho các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp, độc lập. Còn tại Việt Nam, sự thiếu vắng một hệ thống tư vấn đủ năng lực khiến không ít địa phương phải tự quyết nhiều vấn đề trong khi không có chuyên môn sâu.
Vì không hiểu sâu, chúng ta bị lẫn lộn khi quan niệm "rác là tài nguyên". Trong khi đó, ranh giới giữa chất thải gây ô nhiễm và tài nguyên rất mong manh nếu không nắm được công nghệ để chuyển hóa. Nhiều người mang công nghệ nước ngoài về áp dụng nhưng thất bại vì tính toán không sát thực tế. Rác ở châu Âu đã phân loại, nhiệt trị cao. Còn với rác ở nước ta có đặc điểm hỗn hợp, độ ẩm mùa mưa lên tới 70%, nhiệt trị chỉ bằng một phần ba của họ. Công nghệ nước ngoài dù đắt đỏ nhưng đốt không đủ nhiệt, ra điện ít, thải khí độc hại, doanh thu không đủ bù chi phí vận hành.
- Chúng ta đã đưa quy định phân loại rác tại nguồn vào luật và gần đây các địa phương đang nỗ lực siết chặt, thậm chí rút gọn chỉ phân làm hai loại. Theo ông, giải pháp này có khả thi trong ngắn hạn để nâng cao nhiệt trị của rác không?
- Phân loại rác tại nguồn là xu hướng đúng, nhưng không thể tách rời điều kiện hạ tầng. Phần lớn khu dân cư hiện hữu có mật độ xây dựng cao, diện tích hạn chế; nhiều chung cư vẫn sử dụng hệ thống thu gom rác chung nên chưa đủ điều kiện để triển khai đồng bộ việc phân loại. Việc cải tạo toàn bộ hạ tầng thu gom sẽ cần nguồn lực và thời gian rất lớn. Vì vậy, thay vì áp dụng một cách cơ học, cần xây dựng lộ trình phù hợp, đồng thời ưu tiên những giải pháp công nghệ có khả năng xử lý hiệu quả trong điều kiện hiện có.
- Với vai trò là một chuyên gia môi trường , am hiểu thực tế, ông có kiến nghị giải pháp căn cơ nào để các địa phương áp dụng ngay vào thực tiễn?
- Tôi đưa ra ba kiến nghị cốt lõi sau:
Một là, áp dụng công nghệ thích hợp theo đặc thù từng địa phương. Không thể áp một công thức chung cho cả nước. Tỉnh, thành phố lớn, lượng rác hơn 500 tấn/ngày thì làm điện rác. Tỉnh nhỏ, lượng rác ở nông thôn chỉ 100-200 tấn/ngày, rác thuần hữu cơ nên dùng công nghệ sinh học làm phân vi sinh, biogas. Thậm chí có thể học tập mô hình của Israel: phát cho mỗi hộ nông thôn một thùng bạt sinh học biogas để tự phân hủy rác hữu cơ, kết hợp làm bể phốt, tạo gas đun nấu phục vụ gia đình, vừa sạch vừa tiết kiệm.
Hai là, chuẩn hóa quy trình tuyển chọn và thuê tư vấn độc lập xây dựng bộ tiêu chí đấu thầu tích hợp (đất - công nghệ - tài chính) một cách minh bạch. Cùng với đó, yêu cầu doanh nghiệp cam kết tỷ lệ chôn lấp dưới 5%, nếu sai phạm sẽ bị xử phạt, thậm chí thu hồi dự án.
Ba là, kích hoạt cơ chế giám sát toàn dân, phát huy vai trò phản biện của Mặt trận Tổ quốc và cộng đồng. Khi phát hiện các lò đốt tự phát hay nhà máy xả khói đen, bụi, bẩn, cộng đồng và Mặt trận phải vào cuộc, kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu đóng cửa lò đốt và có biện pháp khắc phục ngay lập tức. Có như vậy mới tạo ra sức ép từ cơ sở để làm sạch môi trường.
- Xin cảm ơn ông!