Ngay trong những ngày đầu tiên của năm 2026, ngay trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80–NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.
Không chỉ là một văn kiện quan trọng định hướng sự phát triển của đời sống văn hóa đất nước, Nghị quyết 80-NQ/TW đã tạo nên một dấu mốc đặc biệt trong tiến trình phát triển của cả đất nước, với sự định vị đầy đủ, bao quát, đồng bộ hệ giá trị văn hóa (dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học), hệ giá trị quốc gia (hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc), hệ giá trị gia đình (ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh), chuẩn mực con người Việt Nam (yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo). Đó chính là những giá trị mang ý nghĩa xương sống, định hình, phác họa diện mạo riêng của cả nền văn hóa Việt Nam trong bối cảnh phát triển mới.
Từ bệ đỡ, cũng đồng thời là mục tiêu định hướng sự phát triển lâu dài của cả nền văn hóa đất nước đó, một trong những nội dung nhận được sự đồng thuận và được nhìn nhận thể hiện tinh thần đổi mới rõ nét nhất của Nghị quyết 80-NQ/TW là sự xác định rõ ràng, cụ thể động lực cốt lõi cùng tầm nhìn kiến tạo cho phát triển. Theo đó, nhiều điểm nghẽn lớn trong thực thi phát triển văn hóa từ nhiều năm nay đã được chỉ rõ, đi kèm với những giải pháp cụ thể, có tính khả thi cao, như: Bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, liên thông giữa pháp luật về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tư nhân; chính sách đặc thù, đột phá thúc đẩy hợp tác công tư trong lĩnh vực văn hóa; xây dựng Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình công tư; có cơ chế đặt hàng sáng tạo và phổ biến các công trình, tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới; cho thực hiện thí điểm đối với những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay để tạo đột phá cho văn hóa phát triển, nếu chưa có văn bản pháp luật quy định hoặc có quy định khác; thực hiện chủ trương xã hội hóa văn hóa đúng hướng, hiệu quả; đấu tranh khắc phục khuynh hướng “thương mại hóa”, chỉ coi trọng, đề cao một chiều lợi ích kinh tế trong hoạt động văn hóa, coi nhẹ lợi ích xã hội, nhân văn…
Tinh thần định hướng kiến tạo còn được cụ thể hóa rõ nét bằng những chỉ tiêu cụ thể, trong giai đoạn đến năm 2030, như: Bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hóa đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả; 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn; phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa…
Với những định hướng và quyết sách đồng bộ, toàn diện, khả thi được nêu rõ trong Nghị quyết 80-NQ/TW, nền văn hóa Việt Nam - nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển mình, biến giá trị thành sức mạnh phát triển! ■