Chìa khóa để hạ chi phí vốn cho nền kinh tế

Xếp hạng tín nhiệm quốc gia phản ánh khả năng trả nợ và mức độ rủi ro của một quốc gia. Xếp hạng tín nhiệm càng cao, chi phí vay vốn của Chính phủ, của doanh nghiệp quốc gia đó càng thấp, khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế càng lớn và ngược lại.

Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.
Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.

Với doanh nghiệp, đây còn là trần tín nhiệm, bởi khi quốc gia xếp hạng tín nhiệm thấp thì họ cũng khó vay được vốn rẻ.

Việt Nam còn đứng ngoài “dòng vốn khổng lồ” của thế giới

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn đang có nhu cầu huy động vốn quốc tế. Đơn cử, Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (mã BSR) đang có kế hoạch huy động vốn quốc tế. Hay mới đây, Tập đoàn Vingroup cũng đang xúc tiến đợt phát hành trái phiếu quốc tế trị giá 350 triệu USD, có mệnh giá 200.000 USD/trái phiếu. Lãi suất danh nghĩa dự kiến tối đa 5,75%/năm, kỳ hạn 5 năm kể từ ngày phát hành. Đây là trái phiếu phát hành bằng đồng USD ra thị trường quốc tế, không chuyển đổi, không kèm chứng quyền và xác định nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của tổ chức phát hành.

Theo ông Nguyễn Chí Thành, Chủ tịch Tổng công ty Đầu tư Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), nhu cầu huy động các nguồn lực vốn lớn cả trong và ngoài nước trong giai đoạn phát triển mới là cực lớn.

Tuy nhiên, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết. Ông Nguyễn Quang Thuân, Tổng Giám đốc Finn Group, thẳng thắn nhận định: Điều đáng tiếc nhất là doanh nghiệp Việt Nam phải tiếp cận nguồn vốn quốc tế với mức chi phí cao hơn đáng kể so nhiều quốc gia trong khu vực.

Ở góc độ doanh nghiệp, Tổng Giám đốc Công ty Quản lý Quỹ PVI AM (PVI Asset Management) Trịnh Quỳnh Giao chỉ ra: Giá vốn đắt đỏ, kỳ hạn ngắn là nút thắt đối với các khoản vay quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam, so các doanh nghiệp trong khu vực. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi phát hành trái phiếu quốc tế phải chấp nhận mức lãi suất lên tới 7 - 8%/năm. Con số này cao hơn đáng kể so các doanh nghiệp tại Indonesia hay Philippines, nơi chi phí vốn chỉ dao động quanh 3 - 4%/năm.

Thực tế này không chỉ là câu chuyện của riêng từng doanh nghiệp, mà phản ánh một vấn đề mang tính hệ thống. Chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư và kéo dài chu kỳ tích lũy. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030, cần huy động các nguồn lực lớn cả trong và ngoài nước, bài toán hạ chi phí vốn càng trở nên cấp thiết.

Hiện tại, xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam đang ở mức BB+, theo S&P Global, thấp hơn một bậc so ngưỡng “Đầu tư” (Investment Grade). Đây là một ranh giới quan trọng, bởi phần lớn các quỹ đầu tư lớn trên thế giới, nhất là quỹ hưu trí, bảo hiểm, chỉ được phép đầu tư vào các quốc gia đạt mức tối thiểu BBB-. Điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam đang đứng ngoài một “dòng vốn khổng lồ” của thế giới. Từ kinh nghiệm quốc tế, bà Trịnh Quỳnh Giao cho rằng: Mỗi lần một quốc gia được nâng hạng tín nhiệm, mặt bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ và doanh nghiệp thường giảm đáng kể. Không chỉ Chính phủ tiết kiệm được chi phí vay nợ, mà doanh nghiệp cũng được hưởng lợi trực tiếp từ chi phí vốn thấp hơn, kỳ hạn vay dài hơn và khả năng tiếp cận nhà đầu tư đa dạng hơn.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Quang Thuân đánh giá: Thực tế đang đặt ra nhu cầu cần thiết phát triển kênh vốn nợ (trái phiếu) nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Điều quan trọng không kém nâng hạng thị trường chứng khoán, thậm chí có ý nghĩa kinh tế hơn là việc nâng bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Việc nâng hạng được thực hiện sớm hơn sẽ góp phần tạo thuận lợi cho việc huy động vốn nợ của Chính phủ và doanh nghiệp trên thị trường quốc tế, thu hút dòng vốn ngoại vào thị trường cổ phiếu; giảm chi phí tài chính liên quan hoạt động tài trợ thương mại xuất nhập khẩu.

Nâng cao khả năng hấp thụ, tận dụng hiệu quả nguồn lực

Trong giai đoạn 2026-2030, để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, dự kiến tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách nhà nước của Việt Nam là 8,22 triệu tỷ đồng, gồm: Ngân sách trung ương 3,8 triệu tỷ đồng, ngân sách địa phương 4,42 triệu tỷ đồng là phù hợp kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm, kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030. Riêng năm 2026, theo Quyết định số 352/QĐ-TTg, kế hoạch vay của Chính phủ tối đa 969.796 tỷ đồng, gồm: Vay cho cân đối ngân sách trung ương tối đa 959.705 tỷ đồng, trong đó vay bù đắp bội chi ngân sách trung ương tối đa là 583.700 tỷ đồng, vay để trả nợ gốc không quá 376.005 tỷ đồng; Vay về cho vay lại là khoảng 10.092 tỷ đồng. Về kế hoạch cân đối trả nợ của Chính phủ, dự kiến khoảng 534.739 tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 493.405 tỷ đồng, trả nợ của các dự án cho vay lại khoảng 41.334 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, đánh giá: Nghị định số 119 giúp rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị dự án, đồng thời nâng cao tính chủ động của các cơ quan thực hiện trong tiếp cận và triển khai nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Tuy nhiên, cần nhìn nhận đây mới là một bước tiến trong cả quá trình cải cách dài hạn.

Riêng với tình trạng một số địa phương “trả lại vốn” ODA trong thời gian qua, ông Nguyễn Bá Hùng phân tích: Cần được hiểu đúng, bởi phần lớn đây là vấn đề kỹ thuật liên quan tiến độ giải ngân hằng năm, hoặc một số đơn vị thấy rằng quy trình ODA phức tạp, triển khai chậm, nên cân nhắc chuyển sang sử dụng nguồn vốn khác như ngân sách trong nước - lựa chọn mà nếu không giải ngân kịp, các đơn vị có thể trả lại phần chưa sử dụng và sẽ đăng ký lại vào năm sau khi có tiến độ tốt hơn. Vì vậy, việc trả lại vốn không đồng nghĩa với việc hủy dự án. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh: Trong tương lai, rủi ro sẽ lớn hơn khi các khoản vay ngày càng ít ưu đãi và có thể phát sinh phí cam kết. Nếu giải ngân chậm, vẫn phải trả phí, làm giảm hiệu quả dự án. Do đó, vấn đề cốt lõi là năng lực thực hiện.

“Chúng ta cần đẩy nhanh tiến độ triển khai để nâng cao khả năng hấp thụ vốn và tận dụng hiệu quả nguồn lực từ các nhà tài trợ”, ông Hùng khẳng định.

Cần một chiến lược tổng thể, đồng bộ trên nhiều trụ cột

Với Việt Nam, mục tiêu nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức “Đầu tư” trước năm 2030 không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng, mà là đòn bẩy chiến lược để giảm chi phí vốn cho toàn nền kinh tế. Điều đáng nói là nhiều chỉ số vĩ mô của Việt Nam hiện không hề thua kém các quốc gia trong khu vực. Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) duy trì ở mức cao, nợ công được kiểm soát ở khoảng 33-40% GDP, dự trữ ngoại hối cải thiện đáng kể và môi trường chính trị ổn định.

Chính vì vậy, giới chuyên gia tài chính có chung nhận định: Để giải bài toán chi phí vốn, Việt Nam cần một chiến lược tổng thể, đồng bộ trên nhiều trụ cột. Dẫn lại những buổi làm việc với chuyên gia phân tích và báo cáo xếp hạng của các hãng như: S&P Global, Moody’s, FitchRating, ông Nguyễn Quang Thuân cho biết: Họ thể hiện sự quan tâm, đặt nhiều câu hỏi, bình luận liên quan những vấn đề như hiệu quả thể chế và quản trị, hiệu quả chính sách tài khóa và tiền tệ, chỉ số quản trị tổng hợp, độ tin cậy và hiệu quả của chính sách tiền tệ, khuynh hướng lạm phát… Đây là những điểm Việt Nam cần lưu ý cải thiện hoặc chủ động đối thoại làm rõ.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Việt Nam có thể gia tăng sức mạnh thể chế kinh tế ở việc cải thiện tính có thể dự báo và tính minh bạch về chính sách tài chính-tiền tệ; tính ổn định của hệ thống tài chính, trong đó có vai trò của thị trường vốn; vị thế dự trữ ngoại hối, sức khỏe hệ thống ngân hàng thông qua tăng cường bộ đệm vốn và chất lượng tài sản và phát triển thị trường vốn; công bố thông tin ra bên ngoài tiệm cận và phù hợp thông lệ quốc tế và phổ biến dữ liệu, cải thiện các chỉ số quản trị. Theo báo cáo đánh giá do Nhóm chuyên gia của PVI AM thực hiện, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đang nhìn vào những yếu tố sâu hơn, mang tính cấu trúc của thị trường vốn, như: chất lượng thể chế và quản trị; “sức khỏe” của hệ thống tài chính; độ sâu của thị trường vốn…

Các quốc gia trong khu vực như Indonesia, Philippines hay Malaysia đều đã đạt mức xếp hạng “Đầu tư” từ nhiều năm trước. Điều đáng nói, họ không chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế, mà còn kiên trì cải cách thể chế và nâng cao chất lượng thị trường tài chính. Kết quả là chi phí vốn giảm rõ rệt, khả năng huy động vốn quốc tế cải thiện đáng kể - điều rất đáng để học hỏi và chiêm nghiệm ■

Trong giai đoạn 2026-2030, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) có thể tài trợ khoảng 12 tỷ USD cho Việt Nam, bao gồm cả các khoản vay dự án và hỗ trợ ngân sách. Đây mới là mức tham vấn ban đầu. Thực tế, ADB hoàn toàn có đủ năng lực để tăng quy mô hỗ trợ, tùy thuộc vào nhu cầu vốn của Việt Nam và tiến độ triển khai dự án. Nếu các dự án được thực hiện nhanh, hiệu quả, nhất là các dự án quy mô lớn, có tác động lan tỏa cao, khả năng huy động thêm vốn là hoàn toàn khả thi.

Có thể bạn quan tâm