Hoạt động thiện nguyện và trách nhiệm của lý trí

Lịch sử đã chứng minh, Việt Nam là một xã hội giàu truyền thống tương thân tương ái.

Ðoàn viên Ðoàn Thanh niên hỗ trợ bà con vùng lũ tại Mù Cang Chải (Lào Cai). (Ảnh THÀNH ĐẠT)
Ðoàn viên Ðoàn Thanh niên hỗ trợ bà con vùng lũ tại Mù Cang Chải (Lào Cai). (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Tuy nhiên, việc thiếu hụt các tiêu chuẩn nghề nghiệp, năng lực vận hành cũng như khuôn khổ pháp lý trong hoạt động thiện nguyện đã khiến cho nguồn lực xã hội trong nhiều trường hợp không được điều phối hiệu quả, thậm chí còn tạo nên những “vòng xoáy” đáng quan ngại.

Theo báo cáo của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, riêng giai đoạn 2021-2025, các chương trình thuộc Tháng Nhân đạo hằng năm đã huy động hơn 3.000 tỷ đồng, hỗ trợ hàng triệu lượt người có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều chiến dịch quy mô lớn, đặc biệt trong các đợt thiên tai, dịch bệnh, đã huy động được nguồn lực xã hội lên tới hàng nghìn tỷ đồng trong khoảng thời gian ngắn.

Nguy cơ khiến niềm tin bị bào mòn

Suốt gần hai thập niên gắn bó với các hoạt động thiện nguyện, điều khiến tôi tin tưởng và tự hào nhất không bao giờ là số tiền huy động được, không phải những công trình đã hoàn thành, mà là một điều giản dị: Người Việt Nam mình vốn thương người. Tinh thần sẻ chia ấy đã trở thành một phần trong bản sắc dân tộc, từ những ngày dựng nước, giữ nước cho đến hôm nay.

Theo dòng chảy thời cuộc, sự phát triển của công nghệ, mạng xã hội, cùng với các nền tảng thanh toán điện tử đã góp phần làm cho việc kết nối, huy động và phân phối nguồn lực trở nên nhanh chóng, thuận tiện hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, chính sự thuận tiện này cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Khi việc kêu gọi thiện nguyện có thể được thực hiện dễ dàng thông qua các tài khoản cá nhân, thông tin lan truyền nhanh nhưng chưa được kiểm chứng đầy đủ, thì nguy cơ sai lệch đối tượng, trùng lặp hỗ trợ hoặc thậm chí bị lợi dụng để trục lợi là điều không thể xem nhẹ.

Bản thân tôi đã từng đi qua những năm tháng mà để xin được vài chục triệu đồng mua sách vở, áo ấm cho trẻ em vùng cao là phải đi khảo sát tận nơi, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, xác nhận từ địa phương, nhà trường, đơn vị liên quan; phải giải trình, chịu trách nhiệm đến cùng với từng đồng tiền nhận được. Đơn giản, sự chặt chẽ là điều bắt buộc. Vậy nên, khi thấy những trường hợp chỉ cần một bài đăng trên mạng xã hội, với vài hình ảnh chưa được kiểm chứng, trong thời gian ngắn đã nhận được số tiền lớn, tôi thật sự lo lắng. Và sau đó, có những vụ việc cơ quan chức năng vào cuộc đã phát hiện thông tin không chính xác, thậm chí là lừa đảo. Bởi vậy, điều khiến tôi trăn trở không phải là chuyện mất tiền, mà là lo sợ niềm tin của nhân dân bị bào mòn.

Bên cạnh đó, từ góc độ thực tiễn, một trong những khó khăn lớn nhất của hoạt động thiện nguyện hiện nay không phải là thiếu nguồn lực, mà là thiếu cơ chế xác định, kết nối và điều phối nguồn lực một cách hiệu quả. Việc xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ, tránh tình trạng “cho nhầm, cho trùng” đòi hỏi phải có hệ thống thông tin đáng tin cậy, sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức có chức năng.

Tôi may mắn vì có lợi thế là một nhà báo, một người làm trong môi trường quân đội, nên có thể tiếp cận những kênh thông tin chính thống: Từ đơn vị cơ sở, chính quyền địa phương, nhà trường, đặc biệt là lực lượng biên phòng... Nhưng ngay cả như vậy, tôi vẫn luôn phải rất cẩn trọng, kỹ càng. Mỗi khi có cơ hội và thời gian, tôi luôn lao đến thẳng điểm trường, địa phương để kiểm chứng, để nhìn tận mắt.

trang-4-moi-3440.jpg
Tác giả trong một chuyến thiện nguyện “Thắp lên một que diêm” hỗ trợ trẻ em và người dân vùng cao. (Ảnh NVCC)

Xây dựng hệ thống pháp lý đồng bộ, thống nhất

Chúng ta thường nói: Làm thiện nguyện là làm bằng cái tâm. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Tôi nghĩ, “cái tâm” là điều kiện cần, nhưng không thể thay thế cho “cái lý”. Trong một xã hội hiện đại, nơi nguồn lực xã hội có thể lên tới hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng, thì hoạt động thiện nguyện không thể chỉ dựa vào cảm xúc và thiện chí. Từ thực tiễn của mình, tôi luôn tự đặt ra một nguyên tắc: Không để hoạt động vượt quá khả năng kiểm soát. Không chỉ vậy, nhìn từ khía cạnh thể chế, có thể thấy khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thiện nguyện tại Việt Nam đã bước đầu được hình thành nhưng vẫn còn những khoảng trống đáng kể.

Hiện nay, hoạt động vận động, tiếp nhận và phân phối các nguồn đóng góp tự nguyện được điều chỉnh chủ yếu bởi Nghị định số 93/2021/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện để hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, sự cố. Nghị định này đã mở rộng phạm vi cho phép cá nhân được đứng ra kêu gọi từ thiện, đồng thời quy định một số nguyên tắc về công khai, minh bạch. Tuy nhiên, trên thực tế, việc triển khai vẫn còn gặp nhiều vướng mắc do thiếu các hướng dẫn chi tiết, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả và chưa có chế tài đủ mạnh đối với các hành vi vi phạm.

Bên cạnh đó, việc thành lập và hoạt động của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện hiện được quy định tại Nghị định số 93/2019/NĐ-CP (nay được thay thế, sửa đổi bởi các văn bản liên quan), cùng với các quy định trong Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán, Luật Phòng, chống tham nhũng... Tuy nhiên, các quy định này còn phân tán, chưa tạo thành một hệ thống pháp lý đồng bộ, thống nhất dành riêng cho lĩnh vực thiện nguyện và an sinh xã hội do cộng đồng thực hiện. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động thiện nguyện nhưng không nắm rõ quyền hạn, trách nhiệm của mình, trong khi cơ quan quản lý cũng gặp khó khăn trong việc kiểm soát và hướng dẫn.

Một vấn đề đáng chú ý khác là sự thiếu hụt các tiêu chuẩn nghề nghiệp và năng lực vận hành trong hoạt động thiện nguyện. Trong bối cảnh nguồn lực xã hội ngày càng lớn, việc quản lý tài chính, lập kế hoạch, đánh giá tác động và truyền thông minh bạch đòi hỏi những kỹ năng chuyên môn nhất định. Tuy nhiên, phần lớn các nhóm thiện nguyện hiện nay hoạt động dựa trên tinh thần tự nguyện, thiếu đào tạo bài bản, dẫn đến nguy cơ lúng túng trong tổ chức, khó duy trì bền vững. Chúng ta thường nói “làm bằng cái tâm”, nhưng “cái tâm” là thứ không thể đo lường, không thể lấy đạo đức để thay thế cho pháp luật. Trong khi đó, chính những người làm thiện nguyện chân chính cũng cần được bảo vệ.

Một điều tôi luôn tự nhắc mình: Không để vượt quá khả năng kiểm soát. Mỗi năm, tôi chỉ làm các dự án trong phạm vi vài tỷ đồng. Không phải vì không thể làm nhiều hơn, mà vì tôi hiểu: Nếu nguồn lực vượt quá năng lực quản lý, rủi ro sẽ rất lớn. Nếu một ngày có vài trăm tỷ đồng đổ vào tài khoản cá nhân, tôi không chắc mình có đủ hệ thống để kiểm soát, mà việc làm thiện nguyện không thể chỉ dựa vào một cá nhân. Chính vì vậy, tôi không bao giờ coi thiện nguyện là một “nghề”. Nó là một hoạt động xã hội, một phần trong cuộc sống nhưng không thể thay thế công việc chính.

Nhà nước cần thể hiện rõ vai trò kiến tạo và dẫn dắt

Trong bối cảnh đó, vai trò của Nhà nước cần được nhìn nhận lại theo hướng chủ động hơn, không chỉ dừng ở quản lý mà còn là kiến tạo và dẫn dắt. Hoạt động thiện nguyện, xét cho cùng, là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần bổ trợ cho các chính sách công và huy động nguồn lực từ cộng đồng. Do đó, việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, rõ ràng, có tính khả thi cao là yêu cầu cấp thiết. Một số chuyên gia đã đề xuất cần nghiên cứu xây dựng Luật về hoạt động nhân đạo hoặc luật chuyên ngành về thiện nguyện, nhằm thống nhất các quy định hiện hành, đồng thời thiết lập các tiêu chuẩn về minh bạch, trách nhiệm giải trình và quản trị.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý và điều phối hoạt động thiện nguyện. Việc xây dựng các nền tảng số cho phép công khai thông tin về nguồn thu - chi, đối tượng hỗ trợ, tiến độ triển khai không chỉ giúp tăng tính minh bạch mà còn tạo điều kiện để cộng đồng giám sát. Thí dụ, dự án tài khoản ngân hàng thiện nguyện bốn số của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB) về tài khoản chuyên biệt cho hoạt động thiện nguyện, cho phép theo dõi dòng tiền theo thời gian thực, đã cho thấy hiệu quả bước đầu và cần được nghiên cứu nhân rộng.

Thực tiễn gần hai thập niên tham gia các hoạt động thiện nguyện giúp tôi nhận thức: Giới hạn lớn nhất không nằm ở tấm lòng của con người, mà ở khả năng tổ chức và kiểm soát hoạt động. Khi nguồn lực vượt quá năng lực quản lý, rủi ro về sai sót, thất thoát hoặc lệch mục tiêu là điều khó tránh khỏi. Do đó, việc xác định rõ phạm vi hoạt động, xây dựng quy trình chặt chẽ và phối hợp với các cơ quan, tổ chức có chức năng là yêu cầu tất yếu.
Giữ gìn lòng nhân ái là trách nhiệm của mỗi người. Nhưng bảo vệ được lòng nhân ái, gìn giữ được niềm tin xã hội là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, của các tổ chức và của Nhà nước.

Và hơn hết, đó là trách nhiệm của lý trí ■

Phần lớn các hoạt động thiện nguyện tự phát hiện nay vẫn dựa nhiều vào niềm tin cá nhân, kinh nghiệm riêng lẻ, thiếu quy trình chuẩn hóa và công cụ hỗ trợ chuyên nghiệp. Điều này khiến hiệu quả hỗ trợ chưa cao, thậm chí trong một số trường hợp còn gây ra sự phân bổ nguồn lực không đồng đều, nơi thừa, nơi thiếu.

Có thể bạn quan tâm