Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)
Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Những năm trước đây, không ít doanh nghiệp được cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản không thông qua đấu giá quyền khai thác, hoặc không thực hiện đánh giá tác động môi trường đúng quy định. Đặc biệt, trong một số trường hợp, cấp phép khai thác khoáng sản trùng với khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, vi phạm nghiêm trọng đến môi sinh, điển hình là vụ việc khai thác đá vôi tại xã Yên Bình (tỉnh Lào Cai).

Theo Tiến sĩ Quách Đức Tín (Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản), rủi ro môi trường là nhóm rủi ro phổ biến và kéo dài trong quá trình khai thác khoáng sản, cũng như sau khi đã đóng cửa mỏ. Trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phục hồi môi trường sau khai thác, gánh nặng này sẽ chuyển sang chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư.

Các mỏ đất hiếm, thường có thêm các khoáng vật đa kim như kẽm, chì, đồng hoặc fluorit. Khi khai thác, những chất này sẽ phát thải nhiều khí độc, chất độc ra môi trường, đòi hỏi biện pháp thu gom tại nguồn để xử lý. Hay đối với đất hiếm hấp phụ ion khi chiết tách tại chỗ, sẽ phải sử dụng nhiều chất urê dẫn tới thải kim loại nặng, nitơ amoniac ra môi trường. GS Nguyễn Quang Liêm, Viện Khoa học Vật liệu, cho rằng, cần triển khai xây dựng các dự án và phòng thí nghiệm nâng cao năng lực nghiên cứu công nghệ khai thác, chế biến, đánh giá tác động môi trường, xử lý hoàn nguyên môi trường sau khai thác và chế biến sâu.

Theo Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đối với các loại khoáng sản có trữ lượng lớn, chiến lược, quan trọng, các doanh nghiệp được cấp phép khai thác mỏ phải có đủ năng lực và phải đầu tư các dự án chế biến phù hợp sử dụng công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, bảo vệ môi trường bền vững.

Bởi thế, mỗi dự án khai thác cần có sự tham gia sâu của các tổ chức khoa học chuyên ngành, từ đó gia cố “màng lọc” kỹ thuật bảo vệ môi trường. Các nghiên cứu, quy chuẩn về công nghệ phân tách, cô lập và lưu giữ an toàn các nguyên tố phóng xạ tự nhiên phát sinh từ quặng đất hiếm, sẽ cung cấp các cơ sở dữ liệu khoa học. Dựa vào đó, các cơ quan quản lý nhà nước có công cụ để thẩm định khắt khe báo cáo đánh giá tác động môi trường của mọi dự án.

Ngay từ bây giờ, Việt Nam cần áp dụng công nghệ tuyển tách khép kín, mô hình hóa sự phát tán phóng xạ, quan trắc môi trường liên tục và xây dựng phương án xử lý bùn thải theo tiêu chuẩn quốc tế. Cùng đó, phải nâng cao vai trò giám sát của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia trên toàn bộ quy trình, từ đánh giá công nghệ, rủi ro đến kiểm tra hiện trường và xử lý chất thải.

Chỉ khi chúng ta chứng minh được quy trình khai thác và chế biến đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về an toàn môi trường và trách nhiệm xã hội (ESG), các tập đoàn đa quốc gia mới có đủ cơ sở pháp lý và sự an tâm để rót vốn đầu tư lâu dài. Đồng thời, sự minh bạch và an toàn về môi trường cũng là yếu tố quyết định để tạo ra sự đồng thuận, ủng hộ của người dân địa phương ■

Chúng ta có thể chế biến sâu đất hiếm. Thế nhưng, phải xác định việc đánh giá tác động môi trường của quá trình khai thác và chiết tách là hoàn toàn khác nhau, và phải được làm bài bản.